Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương này trình bày về lý do chọn đề tài; mục tiêu, phạm vi cũng như phương pháp nghiên cứu; đóng góp thực tiễn của đề tài và cấu trúc của luận văn. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu. Chương này trình bày khái quát những vấn đề về lý thuyết, mô hình của các nhà nghiên cứu 8 trước đó về thương hiệu, chất lượng quan hệ khách hàng-thương hiệu, sự truyền miệng.
Qua đó, tác giả đưa ra giả thuyết, mô hình nghiên cứu đề nghị của tác giả. - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương này trình bày cụ thể về qui trình tác giả thực hiện nghiên cứu, cách chọn mẫu khảo sát, phương pháp phân tích dữ liệu, việc điều chỉnh thang đo chất lượng quan hệ thương hiệu và thang đo sự truyền miệng. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày chi tiết kết quả phân tích dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát định lượng, kết quả: kiểm định thang đo bằng Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi qui để đánh giá sự tác động của chất lượng Quan hệ khách hàng-thương hiệu vào sự Truyền miệng. - Chương 5: Kết luận. Chương này trình bày những kết quả cơ bản đạt được sau nghiên cứu, qua đó hàm ý một số chính sách cho doanh nghiệp, đồng thời nhận xét về hạn chế của đề tài và đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo. Tóm tắt Ở chương này, đã khái quát lý do chọn đề tài nghiên cứu, đứng dưới góc độ doanh nghiệp và người tiêu dùng, cũng như phương pháp tiến hành nghiên cứu (định tính, định lượng).
Ở giai đoạn nghiên cứu định lượng, mẫu được chọn theo phương pháp phi xác suất với cỡ mẫu là 247. Đồng thời, cũng đã trình bày một số đóng góp thực tiễn từ kết quả nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu Chương 2 nhằm khái quát lại một số lý thuyết về thương hiệu, quan hệ thương hiệu và truyền miệng làm cơ sở cho nghiên cứu, đồng thời xây dựng mô hình lý thuyết và đặt các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của Quan hệ thương hiệu đến truyền miệng trong thị trường sữa bột dành cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở Việt Nam.
Thương hiệu (Brand) Như Doyle (2003) phát biểu: Thương hiệu là trung tâm của các chiến lược marketing và kinh doanh. Chính sự quan trọng đó nên hai phần ba số nghiên cứu về marketing hiện nay trên thế giới xoay quanh các vấn đề thuộc về thương hiệu. Có rất nhiều quan điểm của các tác giả khác nhau về thương hiệu. Theo Kotler (1991) thì thương hiệu là một tên gọi, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, cách bài trí hoặc sự kết hợp giữa chúng với nhau, dùng để nhận ra hàng hóa, dịch vụ của một người bán hoặc một nhóm người bán và để phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thì thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng, hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh (Bennett, 1995). Với các quan điểm trên thì thương hiệu được hiểu như một thành phần của sản phẩm và thương hiệu có vai trò trong việc phân biệt giữa sản phẩm của những đối thủ cạnh tranh. Theo Moore (2003) thì thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, hình ảnh và mọi sự thể hiện của hình ảnh, dần dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng nhất định. 10 Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) thì cho rằng thương hiệu gồm tất cả những gì mà khách hàng, thị trường, xã hội thật sự cảm nhận về doanh nghiệp hay về những sản phẩm, dịch vụ được cung ứng bởi doanh nghiệp.
Còn nhãn hiệu chỉ là những gì mà thông qua đó doanh nghiệp muốn truyền đạt đến các đối tác của mình. Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002) cho rằng: Có thể chia thành 2 quan điểm chính về thương hiệu: Quan điểm truyền thống: Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh. Với quan điểm này thì thương hiệu được xem như một thành phần của sản phẩm, và thương hiệu ở đây chỉ mang tính chất hữu hình. Quan điểm tổng hợp: Thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi.
Với quan điểm này thì ngược lại, xem sản phẩm như là một thành phần của thương hiệu, sản phẩm có vai trò cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, thương hiệu còn cung cấp lợi ích về tâm lý cho người tiêu dùng. Minh họa cho 2 quan điểm này bằng hình dưới đây: 11 a. Thương hiệu là một thành phần b.
Sản phẩm là một thành phần của sản phẩm của thương hiệu Sản phẩm Thương hiệu Thương hiệu Sản phẩm Nguồn: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008, trang 9) Hình 2.1: Mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu theo quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại Ngày nay, khi mà ranh giới giữa các thuộc tính lý tính sản phẩm dần được xóa nhòa cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, quan điểm tổng hợp về thương hiệu ngày càng được các nhà nghiên cứu và thực tiễn ủng hộ. Lý do là người tiêu dùng có 2 nhu cầu: (1) nhu cầu về chức năng (functional needs) và (2) nhu cầu về tâm lý (emotional needs). Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng và chính thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai (Hankinson & Cowking, 1996). Như Stephen King của tập đoàn WPP phát biểu: “Sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua.
Sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty. Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu (Aaker, 1991). Quan hệ thương hiệu (Brand Relationship) 2. Các nghiên cứu về quan hệ thương hiệu Thế giới đang chuyển từ marketing hỗn hợp sang marketing quan hệ (Gronroos, 1994; Bejou, 1997).
Marketing quan hệ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực marketing với những công trình nghiên cứu của Bagozzi (1974, 12 1978), Arndt (1979), Day và Wensley (1983), Levitt (1983), Dwyer và cộng sự (1987). Gần đây nhất là những nghiên cứu của Fournier (1998), Aaker (2004), Veloutsou và Moutinho (2009). Việc phát triển và duy trì mối quan hệ với khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp, là vấn đề then chốt đối với sự phát triển của công ty (De Wulf và cộng sự, 2001). Bagozzi (1978) là một trong những tác giả đưa ra ý kiến đầu tiên về sự cần thiết phải chuyển sang marketing quan hệ.
Berry (1983) định nghĩa marketing quan hệ là “sự hấp dẫn, duy trì và gia tăng thêm mối quan hệ với khách hàng”. Gronroos (1994) định nghĩa mục tiêu của marketing quan hệ là “là thiết lập, duy trì và củng cố các mối quan hệ với khách hàng và các đối tác có liên quan để làm thỏa mãn mục tiêu của các thành viên này”. Mối quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng bao gồm 3 thành phần chính: sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence), sự tác động lẫn nhau (interaction) và sự ràng buộc lẫn nhau (bond) (Fournier, 1994). Sau đó, trong nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa khách hàng và thương hiệu, Fournier (1998) tập trung nghiên cứu chất lượng quan hệ thương hiệu (brand relationship quality) và đề xuất mô hình 6 thành phần gồm: tình yêu và sự đam mê (love and passion), sự tự kết nối (self-connection), sự cam kết (commitment), sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence), sự thân quen (intimacy), và chất lượng đồng hành thương hiệu (brand partner quality).
Aaker (2004) đã đưa ra 4 thành phần dựa trên nghiên cứu của Fournier bao gồm: sự cam kết (commitment), sự thân quen (intimacy), sự tự kết nối (self- connection), và sự hài lòng (satisfaction) để đo lường chất lượng quan hệ thương hiệu. Kressmann và cộng sự (2006) sử dụng 4 thành phần: tình yêu và sự đam mê (love and passion), sự thân quen (intimacy), sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence), và chất lượng đồng hành (partnership quality). Smit và cộng sự 13 (2007) thì đề xuất thành phần sự tin cậy (trust) để đo lường chất lượng quan hệ thương hiệu vì ông cho rằng đây là thành phần quan trọng của marketing quan hệ (Casalo và cộng sự, 2010). Trong nghiên cứu về chất lượng quan hệ thương hiệu tại thị trường Việt Nam, Nguyen và Nguyen (2011) điều chỉnh, bổ sung mô hình 6 thành phần gồm: sự đam mê (passion), sự tự kết nối (self-connection), sự cam kết (commitment), sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence), sự thân quen (intimacy), và sự tin cậy (trust).
Chất lượng quan hệ thương hiệu chỉ về độ mạnh (strengh) và độ sâu (depth) của mối quan hệ giữa người tiêu dùng cá nhân và thương hiệu (Fournier, 1998; Smit và cộng sự, 2007). Mô hình về chất lượng quan hệ thương hiệu của Fournier (1998) Fournier đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên nhiều đối tượng khách hàng và nhiều thương hiệu để đề xuất 6 thành phần của chất lượng quan hệ thương hiệu gồm: tình yêu và sự đam mê (love and passion), sự tự kết nối (self- connection), sự cam kết (commitment), sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence), sự thân quen (intimacy), và chất lượng đồng hành thương hiệu (brand partner quality). Các thành phần được thể hiện ở hình sau: 14 Tình yêu và đam mê Sự tự kết nối Sự cam kết Chất lượng quan hệ thương hiệu Sự phụ thuộc lẫn nhau Sự thân quen Chất lượng đồng hành thương hiệu Hình 2.2: Mô hình Chất lượng quan hệ thương hiệu của Fournier (1998) 2. Mô hình về Chất lượng Quan hệ thương hiệu của Nguyen và Nguyen (2011) Từ kết quả nghiên cứu của Fournier (1998), Nguyen và Nguyen (2011) đã điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mô hình để đo lường chất lượng quan hệ thương hiệu tại thị trường Việt Nam.
Cũng như Smit và cộng sự (2007), sử dụng thành phần Sự tin cậy thay cho thành phần Chất lượng đồng hành thương hiệu.