Chương 1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương này tác giả trình bày những lý do và mục tiêu hình thành nên nghiên cứu này đồng thời đưa ra những câu hỏi để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ đề cập đến phạm vi, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn Chương này tác giả trình bày những lý thuyết được đúc kết từ nhiều nguồn đáng tin cậy liên quan đến đề tài để tạo nguồn thông tin dữ liệu nghiên cứu cho đề tài: khái niệm Nhà cung cấp, Nhà phân phối, Chất lượng mối quan hệ và các yếu tố liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra những giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Trình bày những thiết kế và quy trình nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu, kết quả xây dựng và hiệu chỉnh thang đo phù hợp. Chương 4 Kết quả và bàn luận Chương này đưa ra kết quả nghiên cứu, kết quả sau khi kiểm định thang đo, phân tích các nhân tố khám phá EFA và nhân tố khẳng định CFA. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra những bàn luận. 5 Chương 5 Kết luận và các hàm ý quản trị Trình bày kết luận của nghiên cứu, từ đó đưa ra những gợi ý đối với Nhà cung cấp và các Nhà phân phối để có một mối quan hệ chất lượng hơn.
Đồng thời đưa ra những đóng góp và hạn chế của đề tài cho các định hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Chương này tác giả trình bày hai nội dung chính bao gồm: cơ sở thực tiễn- giới thiệu về những thông tin liên quan đến công ty Cocacola Việt Nam & hệ thống phân phối và cơ sở lý thuyết có trình bày những lý thuyết được đúc kết từ nhiều nguồn đáng tin cậy liên quan đến đề tài để tạo nguồn thông tin dữ liệu nghiên cứu cho đề tài: Khái niệm Nhà cung cấp, Nhà phân phối, Chất lượng mối quan hệ và Khái niệm của các biến quan sát sẽ được đề cập trong mô hình nghiên cứu đề xuất. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những giả thuyết và mô hình nghiên cứu.1 CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Thị trường nước giải khát Việt Nam Thị trường nước ngọt tại Việt Nam luôn có lượng tiêu thụ đáng kể. Theo doanh số năm 2014 thì đã lên tới gần 4 tỉ USD và tốc độ tăng trung bình mỗi năm hơn 10% đã khiến thị trường nước giải khát tại Việt Nam trở thành miếng đất béo bở mà các nhà đầu tư nước ngoài đang nhắm tới.
Sản phẩm nước giải khát tại thị trường Việt Nam trong những năm gần đây đang ngày một tăng mạnh do tình trạng công nghiệp hóa cuộc sống, người dân càng ngày càng ưa chuộng những loại thức ăn nhanh và nước giải khát đóng chai vì tính tiện lợi và nhanh chóng của chúng. Ước tính trong vòng 15 năm trở lại đây thị trường nước giải khát Việt Nam đã tăng trưởng chóng mặt từ 800 triệu lít lên đến 4,8 tỉ lít trong khoảng thời gian 2000-2015. Hiệp hội Bia - Rượu - NGK VN cung cấp số liệu về các dòng sản phẩm NGK đang chiếm sản lượng sản xuất và tiêu thụ lên đến 85% sản lượng của cả nước. Kỳ vọng rằng giai đoạn 2015 đến 2020 sản lượng NGK sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ.
7 Với mức tăng trưởng kinh khủng như vậy, thì thị trường Việt Nam kể từ khi gia nhập TPP (Hiệp hội đối tác xuyên thái bình dương) sẽ phải đón đầu làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài đổ xô vào xâu xé miếng bánh thơm ngon đang chờ họ tại thị trường Việt Nam. Chính vì vậy nên đây cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi sức cạnh tranh sẽ đột ngột tăng mạnh.2 Tổng quan về công ty TNHH nước giải khát Cocacola Việt Nam Được giới thiệu tại Việt Nam vào năm 1960 và cho đến tháng 2 năm 1994 thì Cocacola mới trở lại Việt Nam để bắt đầu quá trình kinh doanh lâu dài. Tháng 8 năm 1995: Liên doanh đầu tiên giữa Coca-Cola Đông Dương và công ty Vinafimex được thành lập, có trụ sở tại miền Bắc. Tháng 9 năm 1995: Một liên doanh tiếp theo tại miền Nam mang tên Công ty Nước Giải Khát Coca-Cola Chương Dương cũng ra đời do sự liên kết giữa Coca-Cola và công ty Chương Dương của Việt Nam.
Tháng 1 năm 1998: Thêm một liên doanh nữa xuất hiện tại miền Trung - Coca- Cola Non Nước. Đó là quyết định liên doanh cuối cùng của Coca-Cola Đông Dương tại Việt Nam, được thực hiện do sự hợp tác với Công ty Nước Giải Khát Đà Nẵng. Tháng 10 năm 1998: Chính Phủ Việt Nam đã cho phép các Công ty liên doanh trở thành Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các liên doanh của Coca-Cola tại Việt Nam lần lượt thuộc về quyền sở hữu hoàn toàn của Coca-Cola Đông Dương và sự thay đổi này đã được thực hiện trước tiên bởi Công ty Coca-Cola Chương Dương – miền Nam.
Tháng 3 đến tháng 8 năm 1999: Liên doanh tại Đà Nẵng và Hà Nội cũng chuyển sang hình thức sở hữu tương tự. Tháng 6 năm 2001: Do sự cho phép của Chính phủ Việt Nam, ba Công ty Nước Giải Khát Coca-Cola tại ba miền đã hợp nhất thành một và có chung sự quản lý 8 của Coca-Cola Việt Nam, đặt trụ sở tại Quận Thủ Đức – Thành Phố Hồ Chí Minh. Tập trung vào các thị trường chủ chốt chính là chiến lược then chốt mà Cocacola hướng tới. Theo Cocacola, hãy có chỗ đứng kiên vững với các thị trường truyền thống rộng lớn trước, sau đó mở rộng sang các thị trường nhỏ hơn.
Vì thế, tại các thị trường truyền thống rộng lớn như Mỹ, Trung Quốc hay Châu Âu, biểu tượng của Cocacola luôn vững vàng và lưu dấu ấn với hầu hết người dân Cocacola là nhãn hiệu “số 1” thế giới trong ngành nước ngọt có ga và duy trì liên tục nhiều năm. Là nhãn hiệu toàn cầu được 98% dân số thế giới biết đến. Cocacola tuyên bố, thương hiệu của hãng là thuật ngữ được hiểu nhiều thứ 2 trên thế giới sau từ Okay. Tính đến hết 2016, Cocacola Việt Nam có 3 nhà máy đặt tại: Hà Nội, Đà Nẵng, TP.
Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là trụ sở chính của Cocacola Việt Nam với quy mô sản xuất cũng như hoạt động với hơn 1250 nhân viên các phòng ban (số liệu nhân sự Cocacola Viêt Nam, 1-2017). Từ khi đầu tư vào Việt Nam thì Cocacola liên tục thua lỗ vì chiến lược kinh doanh không hiệu quả. Tuy nhiên, đến năm 2013 thì Cocacola Việt Nam bắt đầu có lãi (7 Triệu USD) sau những năm tháng miệt mài kinh doanh tại thị trường Việt Nam (nguồn: cafebiz.vn, 20/10/2016) Do nắm bắt được nhu cầu đa dạng về hương vị sản phẩm và dung tích cho nên Cocacola Việt Nam đã đem đến cho người tiêu dùng nhiều sản phẩm khác nhau như: Coke, Fanta cam, Fanta sari, Sprite, sữa Nutriboots, nước uống thể thao Aquarius, nước tăng lực Sammurai, cam Teppy, Nước suối Dasani… với nhiều dung tích khác nhau phù hợp cho nhiều đối tượng khách hàng chai 300ml, 330ml, 390ml, 1.25l… Cocacola là một tập đoàn nước giải khát lớn và có giá trị thương hiệu nằm top 10 trong nhiều năm liên tục cho đến hiện tại (xếp thứ 4 trong bảng xếp hạng những giá trị thương hiệu đắt giá nhất thế giới năm 2015-Forbes).
Tuy nhiên với đặc điểm riêng biệt 9 của từng thị trường thì kể từ khi đầu tư vào Việt Nam, Cocacola vẫn liên tục thua lỗ tính đến hết năm 2012 (quý I- năm 2013 bắt đầu có lợi nhuận).1 Thông tin về hệ thống phân phối Từ khi mở cửa và gia nhập WTO, hệ thống phân phối của tất cả các ngành hàng tiêu dùng nhanh ở Việt Nam trong đó có Cocacola đã không ngừng thay đổi và phát triển: hệ thống phân phối sỉ và lẻ các mặt hàng mọc lên từ các thành thị đến ngoại ô nông thôn. Với chủ trương thu hút đầu tư, tính cho hết 2015 hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam đã rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình phân phối được liệt kê sau: Các cửa hàng bán lẻ (Tạp hóa, quán ăn, quán uống…) Các cửa hàng tiện ích (Family Mart, Circle K, Co.opFood, B’s Mart, Satrafoods, Vissan…) Hệ thống siêu thị lớn nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh (Big C, Co.op Mart…) Metro Việt Nam Theo thống kê của Bộ Công Thương năm 2015, thị phần bán lẻ hiện tại ở Việt Nam mới chiếm khoảng 25% tổng mức bán lẻ. Cả nước hiện có khoảng 724 siêu thị và 132 trung tâm thương mại, số cửa hàng tiện lợi hoạt động đúng nghĩa (có thương hiệu và vận hành theo chuỗi) mới chỉ dừng lại ở con số hàng trăm. Theo Quy hoạch của Bộ Công Thương, đến năm 2020 cả nước sẽ có khoảng 1.500 siêu thị tức là cần thêm 550 siêu thị so với hiện tại, 180 trung tâm thương mại và 157 trung tâm mua sắm.2 Kênh phân phối của Cocacola Việt Nam Hiện tại công ty Cocacola Việt Nam đang sử dụng kênh phân phối hỗn hợp nhằm đưa sản phẩm từ nhà máy đến tay người tiêu dùng cuối cùng qua những kênh phân phối khác nhau như: 10 (1) Kênh bán lẻ truyền thống (General Trade) Là kênh bán hàng mà các Nhà phân phối được sự chăm sóc từ các Đại diện bán hàng của công ty Cocacola.
Những nhân viên này sẽ viếng thăm các cửa hiệu bán hàng, sử dụng tất cả những kỹ năng của mình cùng với chương trình marketing để thuyết phục các Nhà phân phối mua hàng của mình để tiêu thụ. Các Nhà phân phối trong nhóm được đội ngũ Đại diện bán hàng này phục vụ thông thường là: quán ăn, quán uống, tạp hóa … Hiện tại kênh GT tại Cocacola đang được khai thác khá tốt nhờ lực lượng Đại diện bán hàng hung hậu trãi dài khắp cả nước, đặc biệt là các thành phố lớn: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… trên dưới 1250 người (phòng nhân sự Cocacola, 3.2017) (2) Kênh bán sỉ (Who Sales) Đây là kênh bán hàng mà tại các Nhà phân phối chủ yếu là các Đại lý mua đi bán lại các mặt hàng nước ngọt qua các nhóm người bán lẻ khác nhau nhằm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá.