chương 1, tác giả đã đưa ra lý do chọn đề tài để đo lòng trung thành của khách hàng, qua đó nêu ra được hàm ý quản trị và kết luận nhằm hỗ trợ ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Quận 7 có thể cải thiện chất lượng chăm sóc khách hàng để giữ chân được khách hàng. Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu được tổng quan về câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. 75 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm có liên quan 2.
Khái niệm lòng trung thành của khách hàng Khái niệm lòng trung thành của khách hàng được hiểu theo nhiều cách, như hành vi mua sắm của khách hàng thường xuyên, khách hàng giới thiệu cho gia đình và bạn bè, cam kết tình cảm đối mối quan hệ với khách hàng và sự hài lòng của khách hàng. Đồng thời sự hài lòng của khách hàng ngày càng cao hơn, niềm tin của khách hàng tăng dựa trên giá trị và khách hàng dành nhiều thời gian hơn (Sharp, 2008). Theo Soderlund (2001), lòng trung thành của khách hàng là mối liên quan giữa khách hàng cùng một cá nhân cụ thể liên quan ở trong khoảng thời gian dài. Đo lường đúng về lòng trung thành của khách hàng là khó khăn do có nhiều nguyên nhân.
Các biện pháp được áp dụng cao đều dựa trên hành vi trung thành và các yếu tố tự nhiên của lòng trung thành về mặt cảm xúc. Lòng trung thành của khách hàng được đo lường theo những cách khác nhau. Đó là bằng hành vi “mua lặp lại” có thể được đo lường bằng cách cho qua các yếu tố ẩn mình khác (Nordman, 2004). Hay đánh giá khách hàng bằng thái độ như hành vi mua, lời khuyên dành cho người khác hoặc nói những điều tốt đẹp về một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó (Oliver, 1999).
Đồng thời gắn kết cả thái độ và hành vi được đo lường (Jacoby, Chestnut, 1978). Đối với nhiều ngân hàng và doanh nghiệp, lòng trung thành của khách hàng chỉ có nghĩa khi khách hàng có hành động sử dụng các dịch vụ hoặc mua sản phẩm. Lòng trung thành của khách hàng cũng được đo lường qua hành vi. Nó đo lường về những thái độ (sở thích thương hiệu, ý định mua hàng hay cam kết).
Cách tiếp cận này tập trung điển hình vào sở thích cá nhân, hành vi mua hàng và khả năng sử dụng. Thái độ trung thành được định nghĩa là một khía cạnh tâm lý được thể hiện thông qua việc đánh giá một số yếu tố liên quan đến mức độ ủng hộ hoặc bác bỏ (Eagly & Chaiken, 1993). Thái độ bao gồm ba thành phần, đó là: niềm tin và sự thấu hiểu của khách hàng, quan sát hay nhận thức của khách hàng, định hướng đến chủ động và bị động của khách hàng. 76 Tài sản quý giá nhất của toàn ngân hàng là lòng trung thành của khách hàng.
Họ không những duy trì hành vi giao dịch mà còn phổ biến ngân hàng với những khách hàng tiềm năng khác, khơi dậy sự tin tưởng cho những người xung quanh có cùng nhu cầu. Nếu khách hàng trung thành với ngân hàng hiện tại đang dùng thì họ sẽ gắn bó hơn với ngân hàng đó. Họ sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hay doanh thu cho ngân hàng. Từ đó có thể thấy lợi ích của ngân hàng có kết nối mật thiết với lòng trung thành của khách hàng.
Sự khác biệt giữa lòng trung thành và sự duy trì của khách hàng Việc tái dùng lại các sản phẩm và dịch vụ không thể quy được cho lòng trung thành, vì khái niệm về lòng trung thành không chỉ đơn thuần là mua hàng lặp lại. Hành vi mua sắm sản phẩm hay dịch vụ lặp đi lặp lại chỉ đơn giản là một sự thay đổi không đáng để lựa chọn một sản phẩm mới. Đôi khi nó còn có thể gây bất tiện cho khách hàng. Vì vậy, có khái niệm về lòng trung thành như sau: Trước tiên, lòng trung thành thật sự của khách hàng dựa trên thái độ yêu thích của nhãn hiệu và mức độ trung thành cao thông qua việc tiếp tục mua sản phẩm và dịch vụ có chủ đích của người dùng.
Doanh nghiệp không thể mua được lòng trung thành thực sự của khách hàng. Lòng trung thành thật sự của khách hàng dựa vào các đặc điểm truyền thống về thái độ của khách hàng, gợi ý rằng ba cấp độ của các phân đoạn đưa ra quyết định cho biết sở thích thương hiệu khi lòng trung thành đó thật sự tồn tại (Oliver, 1999). Đầu tiên là, đánh giá sự tin cậy thương hiệu (thuộc tính) phải vươn xa hơn so với đối thủ cạnh tranh. Thứ hai là, thông tin thương hiệu phải phù hợp với sở thích như là thái độ.
Cuối cùng là, khách hàng phải có khả năng sử dụng nhãn hiệu nhỉnh hơn đối với các nhãn hiệu cùng ngành khác. Trong trường hợp trung thành quán tính (lòng trung thành được lưu trữ), khi khách hàng chấp nhận một thương hiệu một cách dễ dàng và thụ động, những người thật sự có lòng trung thành sẽ tích cực trong việc chọn lọc nơi thương hiệu ưa thích của họ. Ngoài ra, lòng trung thành của khách hàng chỉ là việc sử dụng lại sản phẩm hay dịch vụ liên tục mà không cần suy nghĩ quá nhiều về sự phức tạp hay tiện lợi. Điều này được gọi là sự ổn định hay duy trì và đôi khi do khách hàng ngại đổi mới hoặc người tiêu dùng có được sự tiện lợi từ sản phẩm đó.
77 Sự duy trì của khách hàng được tạo ra bởi tác động kết hợp giữa hai lực sau: lòng trung thành ở phía bên trong của khách hàng và các kích thích bên ngoài ở dạng tính năng sản phẩm, chi phí chuyển đổi, giá cả, truyền thông, phần trăm quảng cáo và dịch vụ chăm sóc khách hàng. Các nghiên cứu liên quan 2. Các nghiên cứu trên thế giới Golrou Abdollahi (2008) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm phát triển mô hình đo lường lòng trung thành của khách hàng ở các ngân hàng tại Iran. Chất lượng DV cảm Sự thỏa mãn nhận hữu hình Chất lượng DV Sự lựa chọn cảm nhận vô hình Lòng trung thành Rào cản Thói quen chuyển đổi Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu của Goulrou Abdollahi (2008) (Nguồn: Goulrou Abdollahi, 2008) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố cảm nhận về chất lượng của dịch vụ, rào cản chuyển đổi, thói quen, quá trình chọn lựa đưa ra quyết định và sự thỏa mãn ảnh hưởng đến khách hàng.
Beerli, Martin & Quintana (2004) đã tiến hành nghiên cứu thị trường ngân hàng Châu Âu và phát hiện ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng đối với lĩnh vực ngân hàng là sự hài lòng, nhận thức, chất lượng dịch vụ và rào cản chuyển đổi. 78 Sự hài lòng Nhận thức Lòng trung thành Chất lượng dịch vụ Rào cản chuyển đổi Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu của Beerli, Martin & Quintana (2004) Nguồn: Beerli, Martin & Quintana, 2004 Taimoor Hassan và cộng sự (2012) đã xem xét về việc giữ lại mọi khách hàng tại các ngân hàng Pakistan. Các tác giả đã cho ra khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành bao gồm: sự hài lòng, nhận thức, chất lượng dịch vụ (triết lí thành công), sự tin tưởng và chi phí để chuyển đổi. Sự hài lòng Sự tin tưởng Cảm nhận Lòng trung thành Chất lượng dịch vụ Chi phí chuyển đổi Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Talmoor Hassan & cộng sự (2012) Nguồn: Talmoor Hassan, 2012 Theo nghiên cứu của Singh và cộng sự (2019), bốn yếu tố sau như hình ảnh, sự tin tưởng, sự hài lòng hay sự cam kết là những yếu tố ảnh hưởng và hữu ích nhất đến lòng trung thành của khách hàng trong mọi lĩnh vực.
79 Hình ảnh Sự tin tưởng Lòng trung thành Sự hài lòng Sự cam kết Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Singh & cộng sự (2019) Nguồn: Singh & cộng sự, 2019 Mô hình nghiên cứu của Ko de Ruyter, Pascal & J. Bloemer (1998) đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng. Các nhà nghiên cứu đã điều tra mối liên quan nằm trong chất lượng dịch vụ cảm nhận, các yếu tố hình ảnh và sự hài lòng ảnh hưởng đến việc giữ chân khách hàng cũ, đồng thời tìm kiếm khách hàng mới. Nghiên cứu chỉ giới hạn ở thực tế là lòng trung thành được hiện lên thông qua thị hiếu của người tiêu dùng, mà ít tập trung vào hành vi cử chỉ hay thái độ của khách hàng trong doanh nghiệp.
Hình ảnh Sự hài lòng Lòng trung thành Chất lượng dịch vụ Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Ko de Ruyter & cộng sự (1998) (Nguồn: Ko de Ruyter & cộng sự, 1998) 80 2. Các nghiên cứu trong nước Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Anh (2017) đề xuất mô hình mà sự hài lòng đóng vai trò là yếu tố ảnh hưởng cùng với lòng trung thành của khách hàng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Và sự phàn nàn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lòng trung thành. Đồng cảm Trung thành Tin cậy Sự hài lòng Hữu hình Phàn nàn Tương tác Hình ảnh Nhân khẩu học: - Nam/ Nữ Tiếp cận - Tuổi tác Giá - Khoảng thời gian Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng địa bàn tỉnh Hậu Giang Nguồn: Nguyễn Thị Hải Anh (2017) Mô hình nghiên cứu của Vinh & Lan (2013) lập nên mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của khách hàng, chi phí chuyển đổi và lòng trung thành khi sử dụng dịch vụ và giao dịch tại ngân hàng.
81 Chi phí chuyển đổi Lòng thỏa mãn Lòng trung thành Giá cả Hình 2.7: Mô hình ảnh hƣởng đến lòng trung thành khi sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng Nguồn: Vinh & Lan (2013) 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất Mô hình của nghiên cứu về đề tài “ Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Quận 7 ” thông qua quy trình tổng hợp có chọn lọc và đánh giá, tác giả chỉ ra 5 biến độc lập, bao gồm: (H1) Thói quen, (H2) Chi phí chuyển đổi, (H3) Sự thỏa mãn, (H4) Sự lựa chọn và (H5) Giá trị cảm nhận. Cơ sở lý thuyết Thói quen Một phần lớn khả năng các nhà cung cấp hiện tại vẫn được khách hàng tiếp tục sử dụng dịch vụ của họ bằng cách thông qua thói quen tiêu dùng của khách hàng đó (Beerli et al, 2004).