Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý thuyết; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả và thảo luận; Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 2. Hiệu quả hoạt động của công ty 2. Khái niệm về hiệu quả hoạt động của công ty Hiện nay, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động của công ty.
Thứ nhất, có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của công ty, thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và các chi phí ban đầu bỏ ra để có thể đạt được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này, hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của công ty và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Để đo lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các mô hình phi tham số như DEA (Data Envelopment Analysis - mô hình phân tích bao số liệu) hay SFA (Stochastic Frontier Analysis - phương pháp phân tích biên). Thứ hai, cũng có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động chính là phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.
Do đó, theo hướng tiếp cận này, một số nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu như lợi nhuận trước thuế và lãi (EBIT), lợi nhuận sau thuế (EAT) để đo lường hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, hướng tiếp cận này bộc lộ mặt hạn chế vì chưa thể hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí trong sự vận động biến đổi liên tục. Thứ ba, một hướng tiếp cận được đề xuất nhằm khắc phục hạn chế nêu trên để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh là đại lượng được đo bằng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí, đo lường thông qua các chỉ tiêu tương đối như chỉ số tăng trưởng doanh thu trên tăng trưởng chi phí. Tuy vậy, hướng tiếp cận này cũng có nhược điểm là không xét đến 123doc 8 mức độ tuyệt đối của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh.
Cuối cùng, một hướng tiếp cận phổ biến là xem xét hiệu quả kinh doanh phản ánh lợi nhuận thu được trên phần vốn bỏ ra ban đầu. Hướng tiếp cận này có ưu điểm là phản ảnh được mục đích cuối cùng của các công ty là lợi nhuận. Tuy nhiên lại có nhược điểm là chỉ tính đến nguồn vốn đầu tư mà bỏ qua các nguồn lực khác đã sử dụng. Các chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này thường là các chỉ số lợi nhuận như: tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)… Trong Luận văn này, Tác giả đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty theo hướng tiếp cận cuối cùng.
Cụ thể, Tác giả sẽ sử dụng chỉ số ROE, ROA để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty. Đo lường hiệu quả hoạt động của công ty Theo nghiên cứu của Richard et al. (2009) thì hiệu quả hoạt động của công ty là một trong những phần quan trọng nhất trong nghiên cứu về quản trị. Các hoạt động về marketing, nguồn nhân lực, chiến lược và điều hành công ty đều được đánh giá dựa trên hiệu quả hoạt động của công ty.
Việc đo lường hiệu quả hoạt động giúp cho các nhà nghiên cứu, nhà quản trị đánh giá cụ thể được các hoạt động của công ty và nhà quản lý. Cũng theo các Tác giả thì vẫn chưa có sự thống nhất trong cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty. Đồng thời ba nhóm đo lường thường được sử dụng trong nghiên cứu là đo hiệu quả hoạt động theo thang đo giá trị kế toán, giá trị thị trường và thang đo kết hợp cả hai thang đo giá trị kế toán và giá trị thị trường. Đo hiệu quả hoạt động theo giá trị kế toán sử dụng các chỉ số như: ROA, ROE, EBIT, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn sử dụng (ROCE), tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)… Đo lường hiệu quả hoạt động theo giá trị thị trường sử dụng: thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ số giá trên lợi nhuận của một cổ phiếu P/E, Giá trị thị trường (MV), Thị giá cổ phiếu… Đo lường hiệu quả hoạt động kết hợp hai cách đo lường kế toán và giá trị thị trường sử dụng: Giá trị gia tăng kinh tế (EVA), Giá trị gia tăng tiền mặt (CVA), Dòng tiền chiết khấu (DCF), Giá trị hiện tại (PV)… 123doc 9 Ebrati (2013) đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đa biến dựa trên mẫu nghiên cứu bao gồm 85 doanh nghiệp niêm yết của Iran trong giai đoạn nghiên cứu 2006-2011.
Trong nghiên cứu của tác giả, bài nghiên cứu đã sử dụng bốn cách đo lường cho hiệu quả hoạt động và đóng vai trò là biến phụ thuộc, bao gồm giá trị thị trường so với giá trị sổ sách của vốn cổ phần (MBVR), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), TobinQ và lợi nhuận trên tài sản (ROA); và bốn đại diện cho đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp và đóng vai trò như là các biến độc lập bao gồm Nợ dài hạn trên tổng tài sản, Nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, tổng nợ chia cho tổng tài sản và tổng nợ chia cho tổng vốn chủ sở hữu. Qua đó kết quả của tác giả cho thấy ROE, MBVR và Tobin’s Q có mối tương quan dương với cấu trúc vốn, trong khi sử dụng ROA như là đại diện hiệu quả hoạt động thì kết quả cho thấy hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn có tương quan âm. Điều này có nghĩa là, các doanh nghiệp càng có tỷ lệ đòn bẩy tài chính càng cao thì sẽ càng làm giảm hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Cùng quan điểm như trên, Kallamu (2016) cũng nhận xét rằng các nghiên cứu trước đây sử dụng các thang đo về hiệu quả khác nhau.
Điều đó cho thấy rằng chưa thống nhất một phương pháp đo lường tốt nhất về hiệu quả của công ty. Trong nghiên cứu của mình, Tác giả đã sử dụng thang đo theo kế toán dùng ROA, ROE và thang đo hiệu quả thị trường Tobin’s Q để đo lường hiệu quả của công ty. Theo Tác giả chỉ số Tobin’s Q cho thấy sức khoẻ tài chính của một công ty và nó được dùng để đo lường hiệu quả theo giá trị thị trường của công ty. Sử dụng Tobin’s Q có thể nâng cao được độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Trong khi đó, Srivastava (2011) cho rằng khi nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty thì việc đo lường hiệu quả công ty theo thang đo giá trị kế toán rất quan trọng. Vì trên thực tế, các chỉ số tài chính như ROA, ROE là những chỉ số quan trọng nhất được các nhà đầu tư tại Ấn Độ sử dụng để đo lường, đánh giá hiệu quả của công ty. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng nên chọn chỉ số thích hợp 123doc 10 liên quan đến vấn đề nghiên cứu và kết luận các kết quả dựa trên sự lựa chọn này. Cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu có thể được hiểu là sự phân bố phần vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các bên liên quan (Manna et al.
Có nhiều cách phân loại cấu trúc sở hữu, theo các tác giả Jensen & Meckling (1976) thì có thể phân loại cấu trúc sở hữu theo sở hữu bên trong (tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi các nhà quản lý) và sở hữu bên ngoài (tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi các nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý công ty). Cấu trúc sở hữu cũng có thể được phân theo mức độ tập trung (một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân liên quan hoặc tổ chức sở hữu phần lớn vốn chủ sở hữu của một công ty) hay cấu trúc sở hữu phân tán (không có cá nhân hoặc nhóm các cá nhân, tổ chức nào sở hữu đa số phần vốn của công ty) (Gürsoy & ydoğa, 2002). Đối với hình thức cấu trúc sở hữu phân tán, một công ty có nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần của công ty. Cũng có thể phân loại theo đặc điểm của chủ sở hữu như sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu tổ chức… (Thomsen & Conyon, 2012).
Hoặc có thể phân loại theo vị trí địa lý như sở hữu trong nước, sở hữu nước ngoài. Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện tập trung vào việc phân tích chi phí có liên quan đến mâu thuẫn lợi ích giữa các cổ đông và các nhà quản trị cũng như mâu thuân lợi ích giữa các cổ đông và các chủ nợ. Theo Jensen và Meckling (1976), chi phí đại diện ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Các tác giả tìm thấy rằng cấu trúc vốn tối ưu là kết quả của việc đánh đổi giữa lợi ích (kỷ luật các nhà quản trị) và chi phí (mức chấp nhận rủi ro của các cổ đông) đối với việc tài trợ vay nợ.
Theo mô hình của Jensen và Meckling (1976), và các mô hình khác chẳng hạn như Harris và Raviv (1990) và Stulz (1990), tồn tại chi phí đại diện khi xem xét cấu trúc vốn của các doanh nghiệp. Trong mô hình của các tác giả, mâu thuẫn giữa các nhà quản trị và các cổ đông xảy ra do sự bất đồng đối với các quyết định trong quá trình hoạt động kinh doanh. Harris và Raviv (1990) đã cho rằng thậm chí các cổ đông hoặc các chủ nợ ưa thích 123doc 11 việc thanh lý doanh nghiệp thì các nhà quản trị vẫn luôn luôn lựa chọn việc tiếp tục hoạt động kinh doanh. Mô hình này cung cấp quyền lực cho các cổ đông có thể bắt buộc doanh nghiệp phải thanh lý nếu dòng tiền liên tục thiếu hụt.
Mặt khác, Stulz (1990) giả định rằng các nhà quản trị ưa thích việc đầu tư tất cả các nguồn vốn có sẵn của doanh nghiệp ngay cả khi việc chi trả cổ tức cho các cổ đông là điều tốt hơn. Do đó, theo các mô hình này, cấu trúc vốn của doanh nghiệp có thể được xác định bởi mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng bên trong và các đối tượng bên ngoài.