Luận án tiến sĩ: Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam - Phạm Quốc Quyết

Luận án phân tích toàn diện thực trạng sức cạnh tranh nông sản Việt Nam, chỉ ra hạn chế và đề xuất các giải pháp chiến lược để phát triển bền vững.

Trường đại học

Học Viện Chính Trị

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

197
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng sức cạnh tranh nông sản Việt Nam hiện nay

Việt Nam là một npaese nông nghiệp truyền thống với sức cạnh tranh nông sản đang đứng trước nhiều thách thức lớn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù Việt Nam có những lợi thế về chi phí sản xuất và năng suất lao động, nhưng sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản vẫn bị hạn chế bởi chất lượng sản phẩm và giá bán trên thị trường quốc tế. Các nước cạnh tranh như Thái Lan, Campuchia đang dần chiếm lĩnh các thị trường truyền thống của Việt Nam. Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực như gạo, cà phê, rau quả, thịt gia cầm còn yếu kém so với các đối thủ cạnh tranh.

1.1. Ưu điểm cạnh tranh hiện có

Việt Nam sở hữu những ưu điểm cạnh tranh nổi bật trong ngành nông sản. Chi phí sản xuất thấp nhờ lao động rẻ và nguồn tài nguyên dồi dào. Năng suất lao động cao, đặc biệt trong sản xuất lúa gạo. Vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng. Các sản phẩm như gạo xuất khẩu, cà phê Việt Nam được công nhận quốc tế. Kinh nghiệm lâu năm trong canh tác nông sản.

1.2. Hạn chế và thách thức chính

Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi nhiều hạn chế. Chất lượng sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế cao. Giá bán trên thị trường thấp hơn so với các nước cạnh tranh. Công nghệ sản xuất lạc hậu và tỉ lệ cơ giới hóa thấp. Thiếu thương hiệu, sản phẩm chưa được gắn nhãn hiệu nổi tiếng. Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh nông sản

Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản chịu tác động từ nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau. Những yếu tố này bao gồm cả điều kiện tự nhiên, chính sách kinh tế lẫn phát triển công nghệ. Hiểu rõ các nhân tố này là cơ sở để xây dựng chiến lược nâng cao sức cạnh tranh nông sản. Các nhân tố chủ yếu gồm: điều kiện khí hậu và đất đai, chi phí sản xuất, mức độ ứng dụng khoa học công nghệ, chính sách thương mại, và năng lực nguồn nhân lực. Sự kết hợp tối ưu các nhân tố này quyết định năng lực cạnh tranh của ngành nông sản.

2.1. Nhân tố kinh tế và chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất là nhân tố quyết định sức cạnh tranh nông sản. Việt Nam có chi phí sản xuất thấp hơn nhiều nước khác. Tuy nhiên, chi phí nguyên liệu đầu vào, năng lượng đang tăng. Giá thị trường biến động mạnh ảnh hưởng lợi nhuận nông dân. Năng suất lao động nông nghiệp vẫn còn thấp. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh nông sản chưa hoàn thiện.

2.2. Nhân tố công nghệ và chất lượng

Ứng dụng khoa học công nghệ là chìa khóa nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa nông sản. Tỉ lệ cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam còn thấp. Công nghệ sinh học, chế biến châu chưa được ứng dụng rộng rãi. Chất lượng sản phẩm chưa đạt chuẩn quốc tế cao. Thiếu đầu tư vào nghiên cứu phát triển. Năng lực chế biến và bảo quản sản phẩm còn yếu.

III. Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh nông sản Việt Nam

Để nâng cao sức cạnh tranh nông sản Việt Nam, cần xây dựng chiến lược toàn diện trên nhiều mặt. Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh phải tập trung vào cải thiện chất lượng sản phẩm, ứng dụng công nghệ hiện đại, và xây dựng thương hiệu. Các giải pháp cần sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, và nông dân. Đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ trong nông sản. Cơ cấu lại sản xuất nông sản theo hướng bền vững. Phát triển chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất đến tiêu thụ. Mở rộng thị trường xuất khẩu, tìm kiếm đối tác mới.

3.1. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo

Ứng dụng công nghệ là giải pháp cấp bách để nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ. Ứng dụng công nghệ sinh học, IoT trong quản lý sản xuất. Tăng cơ giới hóa, tự động hóa quy trình sản xuất. Đầu tư vào nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ. Xây dựng hệ thống chế biến, bảo quản hiện đại. Hỗ trợ nông dân tiếp cập công nghệ mới.

3.2. Cải thiện chất lượng và xây dựng thương hiệu

Nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa nông sản đòi hỏi cải thiện chất lượng sản phẩm. Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất. Chứng nhận hữu cơ, địa chỉ xuất xứ cho sản phẩm. Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam mạnh trên thế giới. Kiểm soát chất lượng chặt chẽ từ trồng trọt đến xuất khẩu. Phát triển sản phẩm giá trị cao, chuyên biệt. Tăng cường truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

IV. Các chính sách hỗ trợ phát triển sức cạnh tranh nông sản

Nâng cao sức cạnh tranh nông sản Việt Nam cần hỗ trợ quyết liệt từ chính sách nhà nước. Các chính sách phải tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nông sản xuất khẩu. Cần có giải pháp từ phía Nhà nước để ổn định giá, hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm nông sản. Đổi mới chính sách thương mại để bảo vệ nông dân nhỏ lẻ. Cơ cấu lại đất đai, hợp tác xã nông dân. Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Phát triển nguồn nhân lực nông sản chất lượng cao. Hợp tác quốc tế trong tiêu chuẩn, chứng chỉ sản phẩm.

4.1. Chính sách hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ

Chính sách hỗ trợ sản xuất nông sản cần tập trung vào. Hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp cho nông dân, hợp tác xã. Bảo hiểm nông sản để ổn định thu nhập nông dân. Ổn định giá nông sản, trữ chiến lược. Hỗ trợ giảm giá bán trực tiếp cho thị trường. Phát triển thị trường nội địa chất lượng cao. Hỗ trợ tham gia triển lãm quốc tế, tìm kiếm thị trường.

4.2. Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng và nhân lực

Phát triển sức cạnh tranh nông sản cần đầu tư cơ sở hạ tầng. Xây dựng mạng lưới vận tải, bảo quản sản phẩm. Đầu tư điện nước nông thôn chất lượng cao. Phát triển mạng internet, công nghệ thông tin. Đào tạo nguồn nhân lực nông sản hiện đại. Nâng cao tay nghề, quản lý cho nông dân. Gắn kết nông dân với doanh nghiệp, thị trường.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, tác giả đã khái quát một số vấn đề về cạnh tranh quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế. Chương 2, tác giả đã phân tích về sự thay đổi của lý luận cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế; trong phần này, tác giả đã hệ thống các lý luận canh tranh từ lý luận cạnh tranh cổ điển như: (lý luận cạnh tranh của Adam Smith, John Stuart Mill, Darwin, của C.Mác và mô hình tâm lý), lý luận cạnh tranh 14 hiện đại (Lý luận cạnh tranh trường phái cổ điển- mới, trường phái Áo và của Michael Porter). Từ hệ thống các lý luận về cạnh tranh, tác giả đã phân tích về sự thay đổi quan niệm cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế. Chương 3, tác giả giới thiệu về tiền đề, biện pháp và mục tiêu của chính sách cạnh tranh, tiếp đó tiến hành phân tích hiệu ứng thực thi chính sách cạnh tranh và quan hệ giữa chính sách cạnh tranh với các chính sách kinh tế khác.

Chương 4, tác giả tập trung phân tích sự hình thành lý luận cạnh tranh quốc tế và sự lựa chọn chính sánh cạnh tranh ở Trung Quốc. Trong nghiên cứu của mình Ambastha và Momaya đã đưa ra lý thuyết, khung phân tích mô hình để làm rõ SCT ở cấp độ doanh nghiệp. Theo đó SCT của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các yếu tố đó là: Nguồn lực (tài sản của doanh nghiệp, nguồn nhân lực, cấu trúc, trình độ công nghệ, văn hóa); quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình tiếp thị, quy trình công nghệ); hiệu suất (chi phí, thị phần, giá cả và phát triển sản phẩm mới). Ở bài viết này Sauka đã trình bày kết quả nghiên cứu về SCT của các công ty ở Latvia, tác giả đã xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến SCT ở cấp doanh nghiệp, bao gồm: Năng lực tiếp cận các nguồn lực; nguồn lực tài chính; chiến lược kinh doanh; năng lực làm việc của nhân viên; tác động của môi trường; năng lực kinh doanh so với đối thủ; sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc.

Báo cáo của Khối các nền kinh tế mới nổi (BRICS) gồm 3 phần: Phần tổng hợp, phần báo cáo của các quốc gia trong khối và phần chuyên đề. Phần báo cáo tổng hợp đã đưa ra dự đoán 5 năm tới 15 sẽ chứng kiến 5 quốc gia trong khối tiếp tục cải thiện khả năng cạnh tranh sáng tạo quốc gia. Trung Quốc và Nga duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, Ấn Độ tăng trưởng với tốc độ vừa phải, Brazil và Nam Phi dần dần tăng tốc. Khả năng cạnh tranh sáng tạo quốc gia của năm quốc gia trong khối sẽ giữ cho tăng trưởng ổn định vào năm 2030.

Đồng thời trình bày một phân tích toàn diện về tình hình hiện tại, những thành tựu của hợp tác về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (STI: science technology and innovation) giữa Trung Quốc và các nước BRICS khác, đề xuất các lĩnh vực ưu tiên trong hợp tác STI nhằm cung cấp đầu vào quyết định, có giá trị cho các quốc gia BRICS để thúc đẩy cải thiện khả năng cạnh tranh quốc gia của họ. Phần Báo cáo của các quốc gia: tập trung phân tích và đưa ra dự đoán về khả năng cạnh tranh sáng tạo quốc gia của các nước BRICS dựa trên một cuộc khảo sát về sự phát triển STI của họ và sự hợp tác STI trong khuôn khổ BRICS. Phần Báo cáo chuyên đề: tập trung vào bốn lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến STI như: kinh tế kỹ thuật số (bao gồm tài chính, năng lượng và nông nghiệp); phân tích chi tiết về phát triển STI; tiềm năng của các quốc gia trong khu vực có liên quan và khả năng cạnh tranh sáng tạo quốc gia của các nước BRICS. Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu trên, có thể nói hiện nay những nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn trên thế giới về SCT rất phong phú, như nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

Các lý thuyết cạnh tranh hiện đại đều tập trung nghiên cứu về vai trò của cạnh tranh, đề cập và lượng hóa những tiêu chí đánh giá SCT và những biện pháp nâng cao SCT cho các chủ thể trên thị trường, trong đó cách tiếp cận của WEF và của M. Porter về cạnh tranh và SCT được hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế thừa nhận. Theo cách tiếp cận của WEF thì SCT quốc gia được hợp bởi nhiều nhân tố đó là: Thể chế, chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, năng suất lao động và quy mô thị trường… Trong đó, SCT của doanh nghiệp nội địa là một chỉ số quan trọng để đánh giá SCT quốc gia. Vai trò của từng yếu tố phản ánh những điều kiện thuận lợi, hạn chế cụ thể đến SCT của quốc gia cũng như của doanh 16 nghiệp và được cho điểm tính theo thang điểm thứ tự số lượng các quốc gia được xem xét trên cơ sở tham khảo ý kiến các tổ chức kinh tế hàng đầu trên thế giới.

Tập hợp các chỉ số trên phản ánh kết quả xếp hạng SCT hàng năm của các nền kinh tế trên thế giới [45, tr. Các công trình nghiên cứu liên quan đến sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp và của hàng hóa nông sản S. Trong bài báo này, tác giả đã phân tích lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu nông sản, Theo S. Sachdev, SCT của các sản phẩm nông nghiệp chịu tác động của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Do đó, không dễ để định lượng SCT sản phẩm nông sản của các quốc gia. Sachdev đã đi sâu phân tích lợi thế so sánh của Ấn Độ về thương mại đối với các sản phẩm nông nghiệp, chỉ ra các loại sản phẩm nông nghiệp mà Ấn độ tập trung sản xuất, xuất khẩu sẽ có lợi thế và giá trị. Paul Piang Siong Teng (2013), Agricultural Biotechnology and Global Competitiveness (Công nghệ sinh học nông nghiệp và khả năng cạnh trạnh toàn cầu) [146]. Cuốn sách tập hợp các báo cáo trình bày tại Hội nghị kinh doanh nông nghiệp và thực phẩm Châu Á 2013 về công nghệ sinh học nông nghiệp và khả năng cạnh tranh toàn cầu.

Các bài viết tập trung phân tích làm rõ về: Các xu hướng ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp; thương mại hóa công nghệ sinh học nông nghiệp; quản lý rủi ro trong nông nghiệp; tính bền vững của sản xuất nông nghiệp; vai trò của công nghệ sinh học trong việc nâng cao năng suất xanh và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Siva Sankar and K. Nirmal Ravi Kumar (2014), Domestic and Export Competitiveness of Major Agrultural Commodities in Andhra Pradesh - a Case Study (Khả năng cạnh tranh trong nước và xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ở Andhra Pradesh - một nghiên cứu điển hình) [125]. Nội dung bài báo nhấn mạnh: Tự do hóa thương mại thế giới trong nông nghiệp 17 đã mở ra khung cảnh tăng trưởng mới; Ấn Độ thực hiện chế độ kinh tế mới này từ đầu những năm 90 và đã dẫn đến việc thiết lập lại các mục tiêu trong phát triển nông nghiệp theo hướng cạnh tranh toàn cầu và định hướng xuất khẩu.

Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh đối với một số mặt hàng nông sản xuất khẩu như thóc, bông, ớt, nghệ và ngô, vì gần như tự cung tự cấp đầu vào, chi phí nhân công thấp và điều kiện khí hậu nông nghiệp đa dạng. Trong thập kỷ tới, Ấn Độ có khả năng chứng kiến những thay đổi trong mô hình xuất khẩu các mặt hàng này do cả những hạn chế trong và ngoài nước. Một trong những hạn chế bên ngoài quan trọng nhất bao gồm việc trợ giá quá mức của các nước nhập khẩu làm cho hàng hóa Ấn Độ ít cạnh tranh hơn trên thị trường nội địa. Bài viết đi sâu phân tích khả năng cạnh tranh cả ở trong nước và xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của huyện Guntur ở Andhra Pradesh.

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản trong thời gian tới, Ấn Độ cần có những chính sách khuyến khích hơn nữa các chủ thể sản xuất nông nghiệp, thiết lập một mục tiêu mới cho “Cách mạng xuất khẩu nông nghiệp”. Quá trình đó, Ấn Độ vẫn phải phấn đấu nắm giữ một vị trí quan trọng trên thị trường xuất khẩu đối với những hàng hóa nông sản truyền thống đồng thời phải nghiên cứu phát triển các khu vực mới và hàng hóa mới mà Ấn Độ có lợi thế như động vật sống, các sản phẩm động vật, rau, hoa quả, cây thuốc và nông sản chế biến. Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích thực trạng và tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, tới tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc và thế giới từ năm 1986 đến 2011. Trên cơ sở đánh giá thực trạng tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục sự chậm chạp của qúa trình CNH, HĐH 18 nông nghiệp Trung Quốc đó là: nâng cao trình độ KH&CN trong nông nghiệp; sử dụng các quy tắc của Tổ chức thương mại thế giới để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp và cải thiện khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp; phát triển mạnh công nghiệp chế biến… Roger D.

Cuốn sách đã chỉ ra các tiềm năng về cạnh tranh của nông nghiệp nhiệt đới. Tác giả nhấn mạnh, xuất khẩu trái cây nhiệt đới, quả, hạt và các loại cây trồng có giá trị cao khác đang phát triển rất nhanh từ các nước đang phát triển. Tuy nhiên hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản ở các nước đang phát triển thường gặp phải những khó khăn, trở ngại trong chuỗi giá trị như: vấn đề về bảo đảm an toàn thực phẩm, môi trường, mà đặc biệt là cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu. Attila Jambor - Suresh Babu (2018), Competitiveness of Global Agriculture: Policy Lessons for Food Security (Tính cạnh tranh của nông nghiệp toàn cầu: Bài học chính sách về an ninh lương thực) [124].

Công trình nghiên cứu về việc kết hợp an ninh lương thực và cạnh tranh nông nghiệp trong đối xử với nhau của các quốc gia. Tác giả đã hệ thống các quan niệm về an ninh lương thực, cạnh tranh nông nghiệp; tiến hành đánh giá về những thách thức an ninh lương thực toàn cầu và khu vực trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh nông nghiệp ngày một gay gắt. Tác giả nêu lên các mô hình thương mại; cạnh tranh nông nghiệp toàn cầu và sử dụng nó làm cơ sở để phân tích an ninh lương thực toàn cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ