mở đầu lịch sử hiện đại thế giới. Ở Việt Nam, thời kỳ lịch sử hiện đại được xác định thống nhất bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám 1945” [81, 274]. Thông thường, hiện đại được hiểu là những gì “thuộc thời đại ngày nay”, là “cái đang diễn ra trước mắt”. Theo ý nghĩa này, khái niệm hiện đại là: “sự cập nhật làm cho cái cũ, cái trước đây biến đổi để phù hợp với thời đại hiện nay.
Hiện đại gắn liền với phát triển, tạo ra những giá trị mới hơn, có phẩm chất tốt hơn cái cũ trong quá khứ” [27, 34]. Phạm trù hiện đại luôn mang tính lịch sử, liên quan đến tính thời gian và chất lượng. Nếu như truyền thống là cái phản ánh trình độ của sự vận động lịch sử trong điều kiện và hoàn cảnh cũ, thì hiện đại là cái phản ánh cho một trình độ phát triển của sự vận động trong những điều kiện, hoàn cảnh mới. Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại Từ khái niệm truyền thống và hiện đại, chúng ta nhận thấy, xét về mặt hình thức, giữa truyền thống và hiện đại dường như có sự đối lập nhau.
Nhưng, xét về mặt nội dung, thì đó lại là sự phát triển nối tiếp, kế thừa nhau: Cái truyền thống là cơ sở của cái hiện đại, còn cái hiện đại phát triển, bổ sung cho truyền thống. Dưới góc độ triết học, truyền thống không phải là một di vật của quá khứ, mà là cầu nối với những giá trị thời đại mới. Nếu truyền thống nào được cải 13 tạo làm cho nó thích ứng với thời đại hiện nay, thì truyền thống ấy có tính bền vững và trở thành cái hiện đại. Ngược lại, với những truyền thống nào không đáp ứng được yêu cầu của hiện đại, thì sớm muộn bản thân nó cũng sẽ bị đào thải, mặc dù nó có thể tiếp tục sự tồn tại của mình trong một thời gian nhất định.
Do đó, khi nhìn nhận truyền thống như là một trong những yếu tố làm động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, thì việc tiếp thu, kế thừa truyền thống sẽ không phải là vì truyền thống, mà là vì sự phát triển của hiện tại và tương lai. Xét đến tư tưởng truyền thống, bao giờ cũng có tính ổn định tương đối, phản ánh và gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội cũ. Đây cũng là tính tất yếu của bất kỳ một tư tưởng truyền thống nào đó. Quan điểm triết học Mác-Lênin đã chứng minh rằng: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội và do những điều kiện của đời sống vật chất quyết định.
Tuy nhiên, xét đến tính hiện đại của tư tưởng, thì nó lại thường đòi hỏi những gì xưa cũ của tư tưởng trước đây phải bỏ đi, hoặc nếu giữ lại thì cũng không thể bảo tồn nó ở nguyên trạng thái cũ, mà phải luôn đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triển. Lịch sử phát triển đời sống tinh thần, tư tưởng của xã hội cho thấy, những quan điểm, lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những thành tựu lý luận, tư tưởng của các thời đại trước. Do vậy, đối với tư tưởng, giữa truyền thống và hiện đại vừa có sự đối lập, vừa có sự thống nhất với nhau. Truyền thống làm vai trò chất liệu cho cái hiện đại, hiện đại là cơ sở để truyền thống được tồn tại.
Không đổi mới truyền thống theo sự phát triển xã hội, thì không thực hiện được hiện đại hóa. Ngược lại, không hiện đại hóa, thì truyền thống cũng không thể được duy trì, bảo tồn. Lịch sử phát triển tư tưởng của nhân loại là quá trình diễn ra sự thống nhất giữa tính liên tục và tính gián đoạn, một sự phủ định biện chứng luôn được thực hiện nhằm lưu giữ những giá trị truyền thống của quá khứ, đồng thời, bổ sung vào đó những giá trị sáng tạo mới. Chìa khóa để giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng, chính là sự nhận thức và vận dụng sáng tạo, linh hoạt quy luật kế thừa trong sự phát triển.
14 Kế thừa là mối liên hệ giữa những giai đoạn, những nấc thang phát triển khác nhau, bản chất của mối liên hệ đó là sự bảo tồn những yếu tố tích cực để thúc đẩy sự vật phát triển. Kế thừa không phải là sự sao chép nguyên si, mà là sự gạn lọc, chuyển hóa cái cũ thành cái mới cao hơn về chất trên cơ sở của sự phê phán, kết hợp tính sáng tạo phù hợp với quy luật của hiện thực khách quan. Kế thừa thực chất là gạch nối liền giữa cái khẳng định và cái phủ định.Lênin viết: “Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, dĩ nhiên, phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định và thậm chí với tính cách là nhân tố quan trọng của nó – không, mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định” [87, 245]. Như vậy, bản chất của sự kế thừa là một mâu thuẫn, nó vừa có quan hệ với cái cũ, nhưng lại vừa có quan hệ với xu hướng phát triển của cái mới.
Trong quá trình của sự phát triển, “cách tân” thường được xem là một thời điểm đột phá truyền thống bằng cách phê phán cái cũ, vươn đến cái mới. Qua thời gian, những cái mới được thử thách, chọn lọc và tích tụ dần trở thành truyền thống của đời sau.Mác khẳng định: “Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ, trong đó, mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả những thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ, một mặt tiếp tục cái hoạt động được truyền lại trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi; và mặt khác, lại biến đổi hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay đổi” [11, 65]. Trong lĩnh vực tư tưởng, kế thừa là sự biểu hiện thống nhất giữa không gian và thời gian; phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể. Do đó, sự phát triển của tư tưởng không chỉ là sự kế thừa những giá trị tư tưởng mẫu mực truyền thống, mà còn là lịch sử phát triển tiến bộ các tư tưởng khuôn mẫu ấy.
Hơn thế nữa, sự kế thừa trong tư tưởng không chỉ giới hạn trong phạm vi một dân tộc, quốc gia, mà có khi còn là hệ quả của sự tiếp xúc, giao lưu với những giá trị tư tưởng khác trên thế giới, mang tính nhân loại. 15 Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại theo đúng nghĩa là biện chứng trong phát triển, đó là sự kế thừa bao hàm sự chọn lựa, sự lọc bỏ, sự phê phán, sự tiếp thu, sự nâng cao trong tư tưởng. Hiểu đúng bản chất và ý nghĩa của tính kế thừa trong sự phát triển, cho phép chúng ta tránh được sự cực đoan, thái quá trong nhận thức. Tuyệt đối hóa vai trò của sự kế thừa trong lịch sử xã hội, chiếu theo khuynh hướng này, thì mỗi thế hệ sau chỉ đơn giản thừa hưởng và sử dụng những thành tựu của các thế hệ trước đó.
Ở đây, sự kế thừa đã bị tước đi ý nghĩa biện chứng và hậu quả là lịch sử của loài người nói chung và lĩnh vực tư tưởng nói riêng sẽ dậm chân tại chỗ. Nhưng, cũng sẽ sai lầm nếu nhấn mạnh yếu tố phê phán, thậm chí khước từ mọi di sản tư tưởng, cắt đứt mối liên hệ giữa hiện tại và quá khứ. Đây là cách tiếp cận theo quan điểm hư vô chủ nghĩa, mà thực tế lịch sử đã chứng minh là sai lầm. Phê phán quan điểm này.Lênin đã viết: “Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minh ra.
Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc. Văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của địa chủ và xã hội của bọn quan liêu” [85, 361]. Như vậy, sự vận động của lịch sử bao giờ cũng mang tính khách quan, tuy nhiên, sự lựa chọn truyền thống lại có sự chủ động của nhân tố chủ quan. Để kết hợp giữa truyền thống và hiện đại mà không tạo ra sự mâu thuẫn, nhất thiết, cần phải thấy được tính đặc trưng của truyền thống.
Giá trị của truyền thống thể hiện ở những khía cạnh sau: Truyền thống có tính lạc hậu thường được biểu hiện ở những tư tưởng, tập quán, tâm lý xã hội không còn phù hợp với thời đại mới. Mặc dù, bản thân truyền thống là sự phản ánh hoạt động sống trong một thời đại lịch sử với những giá trị nhất định, nhưng khi thời đại lịch sử ấy đã đi qua thì những giá trị truyền thống đó cũng không phải vì vậy mà biến mất. Trái lại, nó khẳng định một sự tồn tại dai dẳng và thậm chí trở thành gánh nặng cho xã hội. Tuy nhiên, không phải mọi truyền thống đã lỗi thời đều không còn giá trị.
Xét ở góc độ lợi ích, khi truyền thống còn có khả năng thỏa mãn một bộ phận nhu cầu của con người, thì sự tồn tại của nó là hiển nhiên. Với những truyền thống tưởng 16 như không thể sử dụng được nữa, nhưng nếu biết vận dụng, cải tiến thì cũng có khả năng sử dụng có hiệu quả, như phạm trù “trung”, phạm trù “hiếu” của Nho giáo chẳng hạn. Việc lựa chọn yếu tố truyền thống là điều không đơn giản, nhưng lựa chọn cái hiện đại cũng không dễ dàng. Thực tế hiện đại hóa ở các nước chứng tỏ rằng, các yếu tố, các giá trị của tư tưởng vẫn mang tính truyền thống với tính cách là một bộ phận hữu cơ của đời sống tinh thần xã hội không thể xóa bỏ nó.
Bởi lẽ, giữa các yếu tố đó và quá trình hiện đại hóa có quan hệ với nhau chặt chẽ. Hiện đại chỉ có thể thực hiện thành công trên nền tảng của sự thay đổi đời sống tinh thần xã hội. Tuy nhiên, hiện đại hóa không thể là sự tự do áp đặt những giá trị tư tưởng nào. Đồng thời, cũng không phải là sự tùy tiện vứt bỏ truyền thống hay những nội dung của tư tưởng cũ.