Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Sự chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại (Trên tư liệu ca dao trữ tình người Việt)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hằng Phương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2004), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Xuân Kính và PGS. Trần Đức Ngôn. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 50407).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Ca dao là một thể loại tiêu biểu của văn học dân gian người Việt, có sức sống bền bỉ và khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến đổi lịch sử. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực tiễn đời sống văn hóa – nghệ thuật ghi nhận sự ra đời và phát triển sôi nổi của bộ phận ca dao mới (ca dao hiện đại). Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu văn học dân gian tồn tại nhiều ý kiến tranh luận: một số quan điểm phủ nhận sự tồn tại của folklore hiện đại, hoặc hoài nghi về tư cách thể loại của ca dao hiện đại, xem đó chỉ là thơ ca quần chúng tuyên truyền thuần túy hoặc sự kéo dài đơn thuần của văn học viết. Bên cạnh đó, các công trình trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu thi pháp ca dao cổ truyền một cách biệt lập, hoặc tiếp cận ca dao hiện đại thuần túy từ góc độ phản ánh lịch sử - xã hội mà chưa có một công trình chuyên khảo nào khảo sát toàn diện, có hệ thống về sự vận động, chuyển đổi thi pháp giữa hai giai đoạn này trên các bình diện cốt lõi.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Xác lập cơ sở lý luận về thi pháp học văn học dân gian, phân tích bản chất thẩm mỹ của các đặc trưng folklore và định hình hệ thống tiêu chí khoa học nhằm nhận diện ca dao hiện đại.
    2. Khảo sát, so sánh và mô tả có hệ thống sự chuyển dịch thi pháp từ ca dao cổ truyền sang ca dao hiện đại trên bốn bình diện cơ bản: đề tài, cảm hứng chủ đạo, nhân vật trữ tình và ngôn ngữ nghệ thuật.
    3. Lý giải quy luật vận động nội tại của thể loại và các nhân tố lịch sử, xã hội, văn hóa chi phối tiến trình chuyển đổi thi pháp ca dao người Việt.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các yếu tố thi pháp của ca dao trữ tình người Việt (đề tài, cảm hứng chủ đạo, nhân vật trữ tình, ngôn ngữ nghệ thuật) và phương thức diễn xướng dân gian.
    • Phạm vi tư liệu và không gian - thời gian:
      • Ca dao cổ truyền: Khảo sát các văn bản ca dao trữ tình của người Việt được sáng tác và sưu tầm chủ yếu từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trích xuất từ bộ Kho tàng ca dao người Việt cùng các thư tịch cổ và sưu tập trước 1945.
      • Ca dao hiện đại: Tập trung khảo sát mảng ca dao trữ tình người Việt được sáng tác, lưu truyền và sưu tập trong giai đoạn 1945 – 1975 (thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc), có mở rộng liên hệ với một số hiện tượng sáng tác mang phong cách dân gian sau năm 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu lý thuyết thi pháp học và thực tiễn nghiên cứu văn học dân gian hiện đại thông qua các hệ thống quan điểm:

  • Lý thuyết thi pháp học thế giới và Việt Nam:

    • Truyền thống lý luận phương Tây và Nga/Xô viết: Điểm lại quan niệm từ Aristotle, Horace, Boileau đến các nhà thi pháp học hiện đại. Zhirmunsky (1919–1923) xác định thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật; Vinogradov (1963) nhấn mạnh vào hình thức, phương tiện, phương thức sáng tạo nghệ thuật ngôn từ; M. B. Khrapchenko định nghĩa thi pháp học là môn khoa học nghiên cứu phương thức, phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật và khám phá cuộc sống bằng hình tượng; R. Jakobson (1960) tiếp cận từ ngôn ngữ học về chức năng thơ; T. Todorov (1973) nghiên cứu thuộc tính đặc trưng của ngôn từ và quy luật chung của văn học. Tại Trung Quốc có công trình của Trương Tư Tự (Thi pháp học khái thuật); tại Việt Nam có Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) và Trần Đình Sử (Văn học và thời gian).
    • Thi pháp học văn học dân gian: Luận án dựa trên luận điểm của nhà folklore học Xô viết N. I. Kravtsov (Crapxốp, 1906–1980) về việc thi pháp folklore bao gồm cấu trúc tác phẩm, phương tiện phản ánh hiện thực, chức năng tư tưởng thẩm mỹ và phong cách cá nhân của nghệ nhân; công trình của Chu Xuân Diên (Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian) khẳng định việc khảo sát phương thức miêu tả, phương pháp xây dựng hình tượng và phương thức diễn xướng.
  • Vấn đề văn học dân gian hiện đại và ca dao hiện đại:

    • Tranh luận quốc tế và trong nước: Điểm lại các cuộc thảo luận ở Liên Xô từ thập niên 1930 và cuộc tranh luận sôi nổi trên Tạp chí Văn học Việt Nam năm 1969. Luận án dẫn chứng các nhà nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của folklore hiện đại như Hà Châu (1962), Vũ Ngọc Phan (1960, 1978), Chu Xuân Diên (1969, 1975), Trần Đức Các (1969), Nguyễn Văn Diệu (1969), Nguyễn Tấn Đắc (1969), Trần Quốc Vượng (1969), Cao Huy Đỉnh (1974), Đặng Văn Lung (1979, 1983), Trần Gia Linh (1998).
    • Hiện tượng tương đồng khu vực: Phân tích phong trào "Văn nghệ Diên An" (Trung Quốc, sau Tọa đàm văn nghệ Diên An 1942) với các phong trào sáng tác thơ đầu phố, thơ báng súng, thơ chiến hào, điệu hát "tín thiên du" của dân ca Thiểm Bắc trong kháng chiến chống phát xít Nhật (1937–1949), cho thấy tính quy luật của văn nghệ quần chúng trong điều kiện chiến tranh cách mạng.
    • Phân loại sáng tác hiện đại: Dẫn ý kiến của GS. Lê Chí Quế phân loại thơ ca thời hiện đại thành ba bộ phận: (1) Sáng tác của tác giả chuyên nghiệp/nghiệp dư không qua môi trường diễn xướng (như ca dao Trần Hữu Thung, phong dao Tản Đà); (2) Sáng tác cá nhân được dân gian hóa hoặc phong trào quần chúng được lưu truyền có dị bản (như thơ Bảo Định Giang); (3) Tác phẩm ra đời trong môi trường sinh hoạt thực hành, diễn xướng theo phương thức cổ truyền.
  • Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Luận án xác lập vị trí nghiên cứu bằng cách giải quyết hiện tượng tranh luận về ranh giới giữa ca dao hiện đại với thơ ca thành văn và phong trào quần chúng; xây dựng hệ thống tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại trên nền tảng bản chất thẩm mỹ của tính tập thể và tính truyền miệng; thực hiện nghiên cứu so sánh đồng bộ 4 bình diện thi pháp xuyên suốt tiến trình từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và khái niệm công cụ:

    • Khái niệm thi pháp: Tiếp nhận quan điểm xem thi pháp là hệ thống các nguyên tắc sáng tạo của một tác giả, nhóm tác giả, trường phái, giai đoạn hoặc thời đại chi phối cách cấu tạo tác phẩm, vận dụng ngôn ngữ, xây dựng nhân vật và thể loại.
    • Khái niệm ca dao cổ truyền: Thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi), được sáng tác và sưu tầm chủ yếu từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trở về trước.
    • Khái niệm ca dao hiện đại: Thành phần nghệ thuật ngôn từ của các loại dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) và những lời thơ mang truyền thống nghệ thuật dân gian, ra đời và tồn tại trong thời kỳ hiện đại.
    • Hệ thống ba tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại:
      1. Về hình thức nghệ thuật: Mang đặc điểm nghệ thuật dân gian truyền thống (thể thơ, ngôn ngữ, mô-típ mở đầu...), phù hợp với quan niệm nghệ thuật mới và hiện thực đời sống nhân dân thời kỳ hiện đại.
      2. Về nội dung tư tưởng: Mang tâm lý sáng tác tập thể (được nhìn nhận như một phạm trù thẩm mỹ, phản ánh hiện thực tác động đến nhận thức chung của cả cộng đồng).
      3. Về phương thức lưu truyền: Được lưu truyền rộng rãi trong dân gian bằng phương thức truyền miệng và mang ý nghĩa thẩm mỹ của tính truyền miệng, gắn liền với nghệ thuật diễn xướng dân gian.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp thi pháp học: Phân tích cấu trúc nội tại của văn bản nghệ thuật, khảo sát mối quan hệ giữa hình thức nghệ thuật và nội dung mang tính hình thức.
    • Phương pháp so sánh - lịch sử: Đối sánh các yếu tố thi pháp giữa ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại trong bối cảnh lịch sử xã hội tương ứng để xác định tính kế thừa, tính dị biệt và quy luật biến đổi.
    • Phương pháp phân tích văn bản học và thống kê mô tả: Phân loại, khảo sát tần số xuất hiện của thể thơ (thể lục bát chiếm trên 90% tư liệu ca dao), cấu trúc hình tượng và các dạng dị bản trong hệ thống tư liệu.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu:

Nhóm tư liệu Nguồn trích xuất chính trong luận án
Ca dao cổ truyền Bộ Kho tàng ca dao người Việt (GS. Nguyễn Xuân Kính chủ biên) và các văn bản thư tịch: Hát phường vải (HPV), Nam âm sự loại (NASL I, II, III), Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú giải (NGCK), Thi ca bình dân Việt Nam (TCBD I, II, III, IV), Tục ngữ phong dao (TNPD I, II), An Nam phong thổ thoại (ANPT), Cổ Việt phong dao (CVPD), Đại Nam quốc túy (ĐNQT), Hương hoa đất nước (HHĐN), Lý hạng ca dao (LHCD), Thanh Hóa quan phong (THQP), Tục ngữ và dân ca Việt Nam (VNP).
Ca dao hiện đại Tuyển tập 1945–1975: Ca dao chống Mỹ cứu nước (tập ba, tập IV...), Ca dao Việt Nam 1945–1975 (Nguyễn Nghĩa Dân), Ca dao sưu tầm từ 1945 đến nay, Cụ Hồ ở giữa lòng dân; các tập ca dao chuyên đề (Hàng về, Của chung, Đẩy lùi sóng gió, Biết đâu nên vợ nên chồng từ đây, Ánh đèn bổ túc, Thay người đi xa, Ngàn xanh); bài viết, ghi chép điền dã và báo chí (Quân đội nhân dân).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế của việc nghiên cứu sự chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại

Chương 1 giải quyết nền tảng lý thuyết và thực tiễn phân loại của đề tài:

  • Hệ thống hóa lý thuyết thi pháp học: Luận án phân định hai khuynh hướng tiếp cận thi pháp (lý thuyết về nghệ thuật ngôn từ nói chung và hệ thống nguyên tắc sáng tạo cụ thể trong thực tiễn), lựa chọn hướng tiếp cận thứ hai nhằm khám phá quan niệm nghệ thuật của chủ thể sáng tạo dân gian qua từng thời kỳ. Đồng thời khẳng định việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian phải kết hợp khảo sát các yếu tố trong văn bản với các yếu tố ngoài văn bản (phương thức diễn xướng, bối cảnh sinh hoạt).
  • Chứng minh thực tế tồn tại của ca dao hiện đại: Khẳng định ca dao hiện đại tồn tại khách quan do nhu cầu sáng tạo tinh thần của quần chúng dưới sự định hướng của Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) với ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa. Luận án ghi nhận các hình thức diễn xướng độc đáo nảy sinh trong kháng chiến: ca dao dán trên báng súng, tông dao, bi đông, nồi chảo, máng tre, gài vào nắm cơm ra trận địa của anh nuôi (dẫn chứng thơ của chiến sĩ và cấp dưỡng tại chiến dịch Cao - Bắc - Lạng năm 1950 do Hoài Thanh ghi lại; sinh hoạt văn nghệ năm 1949 do Trần Đăng ghi chép; hò đối đáp phá bom của nữ thanh niên xung phong Kim Bảng, Nam Hà năm 1972 trên báo Quân đội nhân dân).
  • Làm rõ bản chất thẩm mỹ của các đặc trưng folklore:
    • Tính tập thể: Không chỉ là phương thức sáng tác mà là phạm trù thẩm mỹ, thể hiện tâm lý sáng tác tập thể và những giá trị thẩm mỹ chung của cộng đồng.
    • Tính truyền miệng: Trong xã hội hiện đại, tính truyền miệng chuyển hóa thành giá trị thẩm mỹ biểu diễn, phát huy tác dụng trực tiếp trong giao tiếp chiến đấu và lao động.
    • Tính dị bản: Luận án chỉ ra tính dị bản ở ca dao hiện đại còn thưa thớt (như các trường hợp dị bản ghi nhận trong sách của Nguyễn Nghĩa Dân: C 92, Ch 130, L 248, Tr 732...) do thời gian định hình chưa đủ dài, song đây là quy luật tất yếu khi tác phẩm tiếp tục vận động trong đời sống.
    • Tính truyền thống: Luận án minh chứng sự tiếp biến truyền thống qua việc khảo sát các lời ca dao hiện đại cải biên trực tiếp từ ca dao cổ (như lời ca dao “Còn trời, còn nước còn non / Còn người thất học, ta còn phải lo” cải biên từ câu cổ truyền “Còn trời, còn nước còn non / Còn cô bán rượu, anh còn say sưa”).
  • Nhận diện các hiện tượng sáng tác mang phong cách dân gian: Phân tích hiện tượng thơ truyền khẩu mang tính trào phúng, tự nhiên chủ nghĩa của Bút Tre Đặng Văn Đăng từ thập niên 1960 và thơ triết lý nhân sinh truyền miệng của Nguyễn Bảo Sinh, chỉ ra ranh giới và khả năng dân gian hóa của các sáng tác cá nhân không chuyên.

Chương 2: Sự chuyển đổi đề tài và cảm hứng chủ đạo từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại

Chương 2 phân tích sự dịch chuyển về nội dung mang tính hình thức:

  • Sự chuyển dịch hệ thống đề tài:
    • Luận án phân biệt đề tài với tư cách là phương diện khách quan của nội dung nghệ thuật (đối tượng đã được lựa chọn, khúc xạ qua lăng kính thẩm mỹ) với hiện thực khách quan nằm ngoài tác phẩm. Phân định ranh giới giữa đề tài trung tâm (mảng hiện thực bản chất, bao quát vận mệnh xã hội) và đề tài nhỏ bé (phạm vi phản ánh hẹp nhưng có khả năng khai thác chủ đề mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc).
    • Trong ca dao cổ truyền, hệ thống đề tài chủ yếu hướng vào đời sống riêng tư, tình yêu đôi lứa, hôn nhân gia đình, thân phận con người và lao động sản xuất nông nghiệp cổ truyền.
    • Trong ca dao hiện đại (1945–1975), đề tài trung tâm chuyển dịch mạnh mẽ sang các vấn đề vận mệnh dân tộc: đấu tranh cách mạng, kháng chiến chống ngoại xâm, tình cảm với Tổ quốc, ca ngợi lãnh tụ (Bác Hồ), phong trào thi đua sản xuất tập thể, bảo vệ đê điều, phong trào bổ túc văn hóa và xây dựng đời sống mới.
  • Sự chuyển đổi cảm hứng chủ đạo:
    • Cảm hứng chủ đạo trong ca dao cổ truyền đa phần gắn với nỗi niềm than thân, giãi bày tâm tư cá nhân trước những bất công của xã hội phong kiến, khát vọng hạnh phúc lứa đôi bình dị hoặc tiếng cười trào phúng dân gian.
    • Ca dao hiện đại chuyển hẳn sang cảm hứng hào hùng, ngợi ca, lạc quan cách mạng và ý thức công dân sâu sắc. Bên cạnh âm hưởng ngợi ca, luận án phân tích mảng ca dao hiện đại mang cảm hứng phê bình, châm biếm sắc sảo đối với các hiện tượng tiêu cực trong thời kỳ kinh tế tập thể, bao cấp (các hiện tượng chủ nhiệm hợp tác xã tư lợi, thủ kho lấn át thủ trưởng, cán bộ quan liêu).

Chương 3: Sự chuyển đổi của nhân vật trữ tình từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại

Chương 3 khảo sát chủ thể bộc lộ cảm xúc trong cấu trúc tác phẩm:

  • Khái niệm và đặc điểm nhân vật trữ tình trong ca dao: Nhân vật trữ tình trong ca dao là hình tượng chủ thể phát ngôn, mang tính đại diện cho tâm tư, tình cảm và ý thức thẩm mỹ của một cộng đồng người lao động nhất định trong bối cảnh lịch sử cụ thể.
  • Những điểm tương đồng: Cả ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại đều thể hiện nhân vật trữ tình qua lối xưng hô mộc mạc, đậm chất tâm tình (mình - ta, anh - em), gắn bó máu thịt với không gian lao động và đời sống cộng đồng, bộc lộ tình cảm trực tiếp và chân thành.
  • Những điểm dị biệt cơ bản:
    • Ca dao cổ truyền: Nhân vật trữ tình chủ yếu là người nông dân nghèo, người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi bởi lễ giáo phong kiến (thân phận "hạt mưa sa", "tấm lụa đào"), mang tâm trạng cô đơn, trăn trở về duyên phận, cuộc sống bấp bênh và sự lệ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên, xã hội cũ.
    • Ca dao hiện đại: Nhân vật trữ tình xuất hiện với tư thế làm chủ cuộc đời, làm chủ vận mệnh đất nước. Đó là những con người cụ thể của thời đại mới: người chiến sĩ giải phóng quân, cô nữ dân công, chiến sĩ thanh niên xung phong, người công nhân, cán bộ bổ túc văn hóa, người phụ nữ tham gia gánh vác việc nước việc nhà ("ba đảm đang"). Ý thức cá nhân hòa quyện chặt chẽ với ý thức trách nhiệm công dân và lý tưởng giải phóng dân tộc.

Chương 4: Sự chuyển đổi ngôn ngữ từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại

Chương 4 khảo sát phương tiện biểu đạt ngôn từ nghệ thuật trên hai bình diện:

  • Phương thức nghệ thuật tạo hình và biểu hiện:
    • Phân tích mối quan hệ giữa chức năng phản ánh hiện thực với các phương thức tạo hình (miêu tả đường nét, màu sắc, chi tiết đời sống thực tế) và biểu hiện (bộc lộ trực tiếp cảm xúc, tâm trạng).
    • Ca dao cổ truyền chủ yếu sử dụng phương thức biểu hiện gián tiếp thông qua các hình ảnh ẩn dụ, so sánh truyền thống gắn với thế giới tự nhiên quen thuộc (cây đa, bến nước, con thuyền, vầng trăng, con cò).
    • Ca dao hiện đại gia tăng mạnh mẽ phương thức tạo hình cụ thể, đưa các chi tiết sinh hoạt chiến trường, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp tập thể vào văn bản. Ngôn ngữ ca dao tiếp thu khối lượng lớn từ ngữ chính trị - thời sự (kháng chiến, lập công, bổ túc, hợp tác xã, thi đua, công đồn, bắn tỉa...).
  • Tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học:
    • Ca dao cổ truyền mang đậm tính mơ hồ đa nghĩa nhờ các biểu tượng đa tầng nghĩa, kết cấu bỏ lửng, tạo ra nhiều khoảng trống cho người tiếp nhận suy tưởng và đồng sáng tạo.
    • Ca dao hiện đại có xu hướng thu hẹp tính mơ hồ đa nghĩa, hướng tới cấu trúc ngôn ngữ tường minh, trực diện, khúc chiết, giàu tính cổ động và tính hành động nhằm đáp ứng yêu cầu truyền đạt thông tin nhanh chóng, rõ ràng trong hoàn cảnh chiến đấu và lao động khẩn trương. Tuy vậy, trong mảng ca dao sinh hoạt và trào phúng, ca dao hiện đại vẫn duy trì lối chơi chữ, liên tưởng nghịch dị và nghệ thuật tương phản dân gian.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận:

    1. Làm sáng tỏ bản chất thẩm mỹ của các đặc trưng văn học dân gian (tính tập thể, tính truyền miệng, tính dị bản, tính truyền thống) trong bối cảnh lịch sử xã hội hiện đại, khắc phục quan điểm xem xét máy móc, xơ cứng các đặc trưng này khi nghiên cứu folklore thời kỳ mới.
    2. Xây dựng và đề xuất hệ thống 3 tiêu chí khoa học nhằm nhận diện ca dao hiện đại, phân định ranh giới giữa ca dao hiện đại với thơ ca thành văn chuyên nghiệp và phong trào thơ ca quần chúng.
    3. Xác lập khung thao tác thi pháp học chuyên ngành để khảo sát văn học dân gian, kết hợp chặt chẽ việc phân tích cấu trúc văn bản nghệ thuật với việc nghiên cứu phương thức diễn xướng ngoài văn bản.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:

    1. Cung cấp một bức tranh toàn diện, có hệ thống về diện mạo và tiến trình vận động thi pháp của ca dao trữ tình người Việt từ cổ truyền đến hiện đại qua 4 phương diện: đề tài, cảm hứng chủ đạo, nhân vật trữ tình và ngôn ngữ nghệ thuật.
    2. Tập hợp, xử lý và phân loại một khối lượng lớn tư liệu ca dao người Việt từ các nguồn thư tịch cổ, các tập sưu tập giai đoạn 1945–1975 và tư liệu điền dã thực tế.
    3. Phục dựng các phương thức diễn xướng dân gian độc đáo của ca dao trong các giai đoạn kháng chiến và lao động sản xuất mới.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

    • Cần nhìn nhận khách quan, khoa học về sự tồn tại và vai trò của văn học dân gian hiện đại trong đời sống tinh thần của nhân dân.
    • Tăng cường công tác sưu tầm, bảo tồn và xuất bản có hệ thống các sáng tác ca dao hiện đại, đặc biệt là mảng ca dao sinh hoạt, ca dao trào phúng truyền miệng sau năm 1975 đang có nguy cơ mai một.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:

    • Phạm vi khảo sát của luận án chủ yếu tập trung vào tư liệu ca dao trữ tình của người Việt trong giai đoạn 1945 – 1975; nguồn tư liệu sau năm 1975 và thời kỳ đổi mới chưa được khảo sát đồng bộ do công tác sưu tầm của ngành còn nhiều bất cập.
    • Do tính chất khẩn trương của hoàn cảnh chiến tranh cách mạng, một bộ phận ca dao hiện đại được văn bản hóa quá sớm khi còn ở dạng phác thảo, thuần túy mang tính cổ động tuyên truyền, ít chất thơ, gây khó khăn nhất định cho việc thẩm định giá trị nghệ thuật thuần túy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng phạm vi khảo sát thi pháp ca dao hiện đại từ sau năm 1975 đến giai đoạn đương đại trong bối cảnh kinh tế thị trường và đô thị hóa.
    • Nghiên cứu so sánh sự chuyển đổi thi pháp ca dao của người Việt với ca dao, dân ca của các dân tộc thiểu số khác cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
    • Đi sâu theo dõi cơ chế nảy sinh dị bản và sự biến đổi của các phương thức diễn xướng ca dao hiện đại trong môi trường truyền thông mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học dân gian, Lý luận văn học và Văn hóa học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên khảo về thi pháp học văn học dân gian và phương pháp tiếp cận đối sánh lịch đại.
    • Giảng viên đại học, cao đẳng: Cung cấp luận cứ, dẫn chứng tư liệu phục vụ giảng dạy các học phần Văn học dân gian Việt Nam, Thi pháp học và Tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX.
    • Cán bộ nghiên cứu văn hóa, cơ quan xuất bản và quản lý văn hóa: Tham khảo hệ thống tiêu chí nhận diện để định hướng công tác sưu tầm, phân loại và bảo tồn di sản thơ ca dân gian thời kỳ hiện đại.
  • Các phần nội dung giá trị nhất cần tham khảo:

    • Chương 1: Khung lý thuyết thi pháp học folklore và hệ thống tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại.
    • Chương 2, 3, 4: Phương pháp phân tích, đối sánh cụ thể từng bình diện thi pháp (đề tài, cảm hứng, nhân vật trữ tình, ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình và biểu hiện).
    • Hệ thống quy ước trích dẫn, tra cứu tư liệu thư tịch ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra những tiêu chí cụ thể nào để nhận diện ca dao hiện đại?
Luận án xác lập 3 tiêu chí: (1) Mang đặc điểm nghệ thuật dân gian truyền thống phù hợp với quan niệm nghệ thuật mới và hiện thực đời sống nhân dân thời hiện đại; (2) Mang tâm lý sáng tác tập thể (xem tính tập thể là một phạm trù thẩm mỹ); (3) Được lưu truyền rộng rãi trong dân gian bằng phương thức truyền miệng và mang ý nghĩa thẩm mỹ của tính truyền miệng/nghệ thuật diễn xướng.

2. Sự khác biệt cốt lõi về nhân vật trữ tình giữa ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại là gì?
Trong ca dao cổ truyền, nhân vật trữ tình chủ yếu là người nông dân nghèo, người phụ nữ chịu nhiều bất công phong kiến, mang nỗi niềm than thân và thân phận phụ thuộc. Trong ca dao hiện đại, nhân vật trữ tình chuyển hóa thành người chiến sĩ, nữ dân công, thanh niên xung phong, người công nhân, cán bộ với tư thế làm chủ cuộc đời, giàu ý thức công dân và gắn bó mật thiết với vận mệnh dân tộc.

3. Trong giai đoạn 1945–1975, ca dao hiện đại có những phương thức diễn xướng độc đáo nào?
Bên cạnh lối hò hát đối đáp dân gian truyền thống, ca dao hiện đại xuất hiện nhiều phương thức diễn xướng mới gắn với đời sống chiến đấu và lao động khẩn trương: dán trên báng súng, tông dao, bi đông, nồi chảo, máng tre; viết lên vách tường, chiến hào; gài vào nắm cơm gánh ra trận địa của anh nuôi; in trên báo tường và đọc trong các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, hội thao.

4. Thể thơ nào chiếm ưu thế tuyệt đối trong tư liệu khảo sát của luận án?
Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc chiếm ưu thế tuyệt đối trong toàn bộ hệ thống tư liệu ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại được khảo sát trong luận án, với tỷ lệ xuất hiện đạt trên 90%.

5. Luận án đánh giá như thế nào về hiện tượng thơ Bút Tre và thơ Nguyễn Bảo Sinh?
Luận án xem đây là những hiện tượng sáng tác cá nhân độc đáo mang đậm phong cách và tư duy nghệ thuật dân gian (tính truyền khẩu, lối tư duy hình tượng mộc mạc, tính trào phúng hoặc triết lý nhân sinh). Những sáng tác này đóng vai trò khơi nguồn cho các vần thơ truyền khẩu trong quần chúng và khi được cộng đồng đón nhận, lưu truyền theo quy luật folklore thì sẽ bước vào quỹ đạo của văn học dân gian.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Hằng Phương là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về sự chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền sang ca dao hiện đại trên tư liệu ca dao trữ tình người Việt. Bằng việc xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc, xác lập 3 tiêu chí nhận diện khoa học và phân tích đối sánh thấu đáo trên 4 bình diện thi pháp cốt lõi, công trình đã chứng minh tính liên tục và sự vận động biện chứng của thể loại ca dao trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc. Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp nguồn tư liệu học thuật quan trọng cho chuyên ngành Văn học dân gian và Lý luận văn học Việt Nam.