phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của nghiên cứu sinh liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự chuyển đổi nghề nghiệp của lao động trong gia đình ở nước ta hiện nay Chƣơng 3: Chuyển đổi nghề nghiệp của lao động trong gia đình ở nước ta hiện nay Chƣơng 4: Các yếu tố tác động đến chuyển đổi nghề nghiệp của lao động trong gia đình ở nước ta hiện nay 11 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh tập trung làm rõ tổng quan vấn đề nghiên cứu dựa trên việc nghiên cứu những tài liệu trong nước và ngoài nước liên quan tới chủ đề của luận án. Nghiên cứu sinh phân tích một số khía cạnh theo những vấn đề mà các tài liệu liên quan đề cập tới như: Một số mô hình nghiên cứu về chuyển đổi nghề nghiệp; Một số nghiên cứu về chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động ở một số quốc gia; Một số nghiên cứu về nguyên nhân và các yếu tố tác động đến chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động hiện nay. Một số mô hình nghiên cứu về chuyển đổi nghề nghiệp Vào những năm đầu thế kỷ XX, vấn đề tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Fisher với tác phẩm Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kỹ thuật (1935), ông phân nền kinh tế thành 3 khu vực, gồm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Ông cho rằng với tác động của khoa học công nghệ tất yếu sẽ kéo theo quá trình chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Quá trình này sẽ thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng khối ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tỷ lệ lao động nông nghiệp sẽ giảm dần. Fisher cho rằng, chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khi đánh giá kết quả và tính bền vững của chuyển dịch lao động cần phải đánh giá tác động của nó đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Lewis với tác phẩm Lý thuyết về phát triển kinh tế (1955), ông đưa ra Mô hình hai khu vực để lập luận về mối quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và khu vực công nghiệp trong quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời đưa ra lý thuyết về chuyển dịch lao động giữa hai khu vực trên cơ sở lý luận về tiền công lao động ở góc độ thu nhập.
Quá trình chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp là do thu nhập ở khu vực công nghiệp cao hơn. 12 Ông cũng giải thích, tăng trưởng diễn ra do sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Một nền kinh tế ban đầu chỉ bao gồm một khu vực nông nghiệp được chuyển thành nền kinh tế bao gồm hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp, trong đó khu vực công nghiệp đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy, tiền công lao động hay thu nhập là yếu tố rất quan trọng thúc đẩy chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp.
Khi đánh giá mức độ bền vững của quá trình chuyển dịch lao động, cần phải xem xét kết quả về thu nhập mà nó đem lại cho người lao động. Nếu chuyển dịch lao động không đi kèm với mức thu nhập đảm bảo đời sống cho người lao động thì hiệu quả xã hội của nó cũng thấp và thiếu tính bền vững. Khác quan điểm với Fisher và Lewis, Harry T.Oshima đưa ra lý thuyết về tăng trưởng và tạo việc làm ở các nước châu Á với mô hình phát triển hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp theo 3 giai đoạn trong tác phẩm Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á (1989). Cụ thể: Giai đoạn đầu tiên: tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp để tạo việc làm cho lao động thiếu việc làm ở khu vực nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân đồng thời để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho dân số tăng lên và xuất khẩu nông sản để có ngoại tệ nhập khẩu máy móc cho phát triển công nghiệp.
Giai đoạn này kết thúc khi sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển trên quy mô lớn, đặt ra yêu cầu phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, trước hết là các ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống ở nông thôn như công nghiệp phân bón, công nghiệp chế biến, các dịch vụ ở nông thôn. Đây là giai đoạn nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp hay nền kinh tế nông nghiệp với tỷ trọng lao động nông nghiệp trong cơ cấu lao động còn khá cao. Giai đoạn thứ hai: đẩy mạnh phát triển đồng thời cả 2 khu vực gồm phi nông nghiệp và nông nghiệp để tạo việc làm đầy đủ cho lao động ở cả hai khu vực.Oshima, để tạo việc làm đầy đủ cho lao động ở khu vực nông nghiệp và lao động ở khu vực phi nông nghiệp, nói cách khác để chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động trong giai đoạn này, cần phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ theo chiều rộng, sử dụng nhiều lao động để tạo đủ việc làm cho xă hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Giai đoạn này kết thúc khi tốc độ gia tăng việc làm lớn hơn tốc độ tăng lao động, nền 13 kinh tế bắt đầu có dấu hiệu thiếu lao động, tiền lương thực tế tăng nhanh.
Đây có thể coi là giai đoạn “cất cánh” của nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp. Giai đoạn thứ ba: phát triển cả hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp theo chiều sâu, mở rộng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, qua đó giảm cầu lao động và tăng sức cạnh tranh của các ngành kinh tế. Khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và hướng vào xuất khẩu đi kèm với chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp theo hướng nâng cao hàm lượng công nghệ của sản phẩm. Khu vực dịch vụ phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng của sản phẩm không ngừng được nâng lên.
Giai đoạn này có thể coi là giai đoạn nền kinh tế phát triển cơ bản dựa vào công nghiệp và dịch vụ, giai đoạn nền kinh tế công nghiệp và tiếp tục phát triển trở thành nền kinh tế tri thức. Mô hình của H.Oshima phản ánh khá rõ các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế gắn với tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động đồng thời có tính bền vững khi xác định tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động cần phải dựa trên tích lũy và đầu tư của cả hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, kết hợp hài hòa hát triển khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó có ưu tiên phát triển từng khu vực trong mỗi giai đoạn gắn với tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động. Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh và chuyển dịch lao động không dẫn đến phân hóa lớn trong xã hội và bất bình đẳng trong thu nhập. Đối với Việt Nam, đây là một mô hình hữu ích để nghiên cứu vận dụng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững.
Một số nghiên cứu về chuyển đổi nghề nghiệp của ngƣời lao động ở một số quốc gia Vai trò của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội được nhiều tác giả đề cập. Theo quan điểm quyết định luận kinh tế, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội có vai trò quy định và quyết định mọi mặt của đời sống xã hội. Sự phát triển của một quốc gia chính là sự tăng trưởng cao về mặt kinh tế. Zhenglai trong nghiên cứu Sự chuyển đổi nghề nghiệp của Trung Quốc.
Trong đó, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của nông thôn, nông nghiệp và vai trò của 14 người nông dân trong nền kinh tế Trung Quốc. Các cuộc cách mạng ở Trung Quốc đi theo hướng “các vùng nông thôn bao quanh thành phố” - Điều này đã thúc đẩy hệ thống trách nhiệm của hộ gia đình ở khu vực nông thôn khi mà phần lớn dân số sống tại các vùng nông thôn. Nghiên cứu cũng đề cập tới hàng loạt các vấn đề trong cải cách nông thôn và phát triển nông nghiệp ở Trung Quốc như quyền sở hữu, cơ cấu thương mại thực phẩm, các thị trấn và làng, các doanh nghiệp, việc làm phi nông nghệp, sự di chuyển của lực lượng lao động, phân bổ đất đai, thuế. Với quan điểm hướng tới phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, Chính phủ khuyến khích nông dân đầu tư sản xuất nông nghiệp và mở rộng phi nông nghiệp.
Đây là yếu tố quan trọng để thu hút lao động vào lĩnh vực phi nông nghiệp. Đồng thời, nhà nước thực hiện tăng giá thu mua nông sản một cách hợp lý, khuyến khích sản xuất những sản phẩm có giá trị, phù hợp với yêu cầu của thị trường. Nhờ phát triển mạnh mẽ các hoạt động phi nông nghiệp, lao động nông thôn có nhiều cơ hội tiếp cận việc làm, qua đó thay đổi nhanh chóng cơ cấu lao động ở nông thôn. Bên cạnh đó, Trung Quốc đưa ra và thực hiện chính sách về “sản nghiệp hóa nông nghiệp”.
Tức là tổ chức kết hợp giữa nông hộ với công ty hoặc nông hộ kết hợp với tập thể. Nông hộ cùng với các tổ chức kinh tế khác tiến hành liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, kết hợp giữa nông nghiệp - công nghiệp và thương mại, kết nối các khâu thành một dây chuyền (Zhenglai (1997). Như vậy, chính sách phát triển sản nghiệp hóa nông nghiệp của Trung Quốc là một minh chứng về tính tích cực trong sự kết nối thành thị - nông thôn, công nghiệp - nông nghiệp, sản xuất - thị trường. Trong đó, cần có các “đầu tàu” kết nối các khâu của quá trình sản xuất, kết nối những người nông dân nhỏ liên kết với các tổ chức kinh tế thông qua liên kết sản xuất - tiêu thụ, kết hợp sản xuất - chế biến - tiêu thụ, kết nối các khâu thành một dây chuyền nhằm đảm bảo gắn kết lợi ích, quyền lợi, trách nhiệm của các thành phần tham gia.