mở đầu câu chuyện thường là cái cớ và kết thúc câu chuyện thường mang tính chất đột biến và tạo ra tiếng cười cho câu chuyện; nội dung của hàm ý liên quan đến đề tài, tiếng cười của truyện dân gian thực chất là tiếng cười luân lý, phản đối cái ác và hướng đến cái thiện… Bên cạnh đó, tác giả Hoàng Đăng Trị (2015) với bài nghiên cứu “Tìm hiểu trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam”, trên cơ sở phân tích nghĩa biểu vật, tác giả tìm ra mối quan hệ của nghĩa biểu vật với nội dung phản ánh của truyện cười Việt Nam; lối suy nghĩ về cách gọi tên của người Việt, qua đó thấy được những nét đặc trưng văn hóa của người Việt xưa và đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian của con người Việt Nam. Nghiên cứu về “các biện pháp gây cười trong truyện cười dân gian Việt Nam (trên quan điểm ngữ dụng học)” của tác giả Nguyễn Thị Tuyển (2016); Hoàng Ngọc Diệp (2021) nghiên cứu với đề tài “cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam”; các tác giả đã phân tích và chỉ ra các biểu hiện cụ thể của việc vi phạm các quy tắc sử dụng ngôn ngữ trong truyện cười như: vi phạm quy tắc chiếu vật, vi phạm quy tắc lập luận, đồng thời cho thấy các giá trị gây cười của việc phá vỡ các quy tắc dụng học trong truyện cười dân gian Việt Nam; chỉ ra cơ chế cấu tạo, mô tả, phân tích đặc điểm của truyện cười, lý giải các phương thức gây cười trong truyện cười hiện đại Việt Nam. Thông qua đó, góp phần xác định vị trí, vai trò và giá trị của truyện cười hiện đại trong việc phát triển nền văn hoá, hình ảnh con người 10 Việt Nam. Đồng thời, làm sáng tỏ một số đặc trưng ngôn ngữ, phản ánh các giá trị văn hoá tinh thần của người Việt: tính “trạng” hóm hỉnh trong hoạt động giao tiếp, tiếng cười Việt Nam xuất hiện mọi lúc, mọi nơi; tiếng cười trong truyện cười thể hiện trí tuệ, uyên bác trong lối chơi chữ, lối nói ẩn ý, vòng vo; dùng tiếng cười để phê phán những thói xấu, những hành vi phi đạo đức bằng cách nói nhẹ nhàng nhưng cũng thể hiện tính châm biếm sâu sắc, mang tính nhân văn thể hiện trong truyện cười hiện đại Việt Nam.
Hay các tác giả Liêu Thị Thanh Nhàn, Trần Văn Tư, Nguyễn Anh Thành, Nguyễn Thị Thanh Xuân (2023, tr. 726 - 738) cũng đã nghiên cứu truyện cười Việt Nam dưới góc nhìn ngữ dụng học, từ đó chỉ ra được cơ chế gây cười trong truyện thông qua hiện tượng vi phạm các phương châm hội thoại và các hành vi ngôn ngữ. Hướng nghiên cứu liên quan đến truyện cười dưới góc độ ngữ dụng trong so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ a. Ở Hàn Quốc Chúng tôi tìm thấy bài nghiên cứu của Sakhabutdinova Luiza (2016) “한국과 우즈베키스탄 시트콤에 나타난 유머 담화의 특성에 대한 연구” (Nghiên cứu về đặc điểm của diễn ngôn hài hước trong hài kịch Hàn Quốc và Uzbekistan) tập trung vào nghiên cứu cơ chế gây cười, để làm rõ đặc điểm của các đoạn hội thoại hài hước trong tiếng Hàn và tiếng Uzbek thông qua các tập phim hài.
Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù mọi người đều có khả năng cảm nhận tính chung của hài hước, nhưng ngữ cảnh và đặc điểm sử dụng hài hước có thể khác nhau theo vùng văn hóa. Yếu tố hài hước có thể thực hiện nhiều chức năng và thể hiện nhiều khía cạnh của tính cách con người. Kang So Chon và Jiang Xiaoqian (2019) với đề tài “한국 假面劇과 중국 儺戲에 나타난 언어적 유머에 관한 연구” (Nghiên cứu về sự ngôn ngữ hài hước thể hiện trong nhạc kịch mặt nạ Hàn Quốc và Trung Quốc) nghiên cứu về biểu hiện ngôn ngữ hài hước trong nghệ thuật mặt nạ Hàn Quốc và Trung Quốc được xác định thông qua việc phân tích các lời thoại của các nhân vật trong các vở kịch mặt nạ ở hai quốc gia. Phần lớn được sử dụng là ngôn ngữ tục tĩu và lối chơi chữ, chứa đựng yếu tố châm biếm và mưu trí trong cách sử dụng ngôn ngữ.
Hơn nữa, việc sử dụng đồng âm, từ cùng âm cuối và câu đố đã được sử dụng dựa trên các đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Hàn và tiếng Trung. Bài nghiên cứu làm cơ sở cơ bản để hiểu về nhận thức về hài hước trong văn học truyền thống của cả hai nước. Jang Yo (2023) có công trình nghiên cứu với đề tài “중.한 유머 번역 전략 연구: 중국 코미디 쇼? Rock & Roast?의 자막을 11 중심으로” (Nghiên cứu chiến lược dịch hài Trung - Hàn: Tập trung vào phụ đề của chương trình hài Trung Quốc “Rock & Roast”) với mục đích nghiên cứu cách dịch thuật để tạo ra hiệu quả hài hước trong việc chuyển từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ dịch và mong muốn giữ lại tác động của ngôn ngữ hài hước đối với người đọc. Nhận thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ hài hước trong cuộc sống, song nghiên cứu về khía cạnh dịch thuật của ngôn ngữ hài hước vẫn còn ít.
Yếu tố hài hước có sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa, gây khó khăn cho quá trình dịch thuật để đạt được hiệu quả. Từ đó bài nghiên góp phần lớn trong ngành ngôn ngữ nói chung và lĩnh vực dịch thuật nói riêng. Ở Việt Nam Huỳnh Thị Hoài (2008) “A pragmatic study on some factors causing laughter in english and vietnamese funny stories” (Phân tích một số yếu tố gây cười trong các truyện hài ngắn tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm ngữ dụng học) đã chỉ ra được các yếu tố gây cười trong truyện cười của hai ngôn ngữ dựa theo quan điểm của Austin (1955) về lý thuyết hành động lời nói gián tiếp. Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu của tác giả Trần Văn Tư (2021) với đề tài “Đối chiếu hiện tượng vi phạm phương châm hội thoại trong truyện cười Trung Quốc và Việt Nam” cũng đã ứng dụng lý thuyết cộng tác hội thoại của Grice (1975) để miêu tả, phân tích các hiện tượng vi phạm phương châm hội thoại trong truyện cười Trung Quốc và Việt Nam, tìm ra được những nét tương đồng và dị biệt về hiện tượng vi phạm phương châm hội thoại trong truyện cười của hai ngôn ngữ.
Hay “The types of jokes in view of language ambiguity (illustrated by the Vietnamese and English languages)” (Các kiểu loại truyện cười do mơ hồ ngôn ngữ (minh họa bằng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh)) của Trần Thủy Vịnh (2015) đã cho thấy sự mơ hồ của ngôn ngữ đóng vai trò tích cực và giúp người nói và người nghe thực hiện giao tiếp một cách hiệu quả và tạo ra tiếng cười bằng những câu đùa ngắn gọn nhưng tinh tế và mang đầy phẩm chất nghệ thuật. Bài viết phân tích những đặc điểm của sự mơ hồ trong ngôn ngữ như một “phương tiện” để tạo nên sự hài hước trong các câu đùa trong truyện cười bằng tiếng Việt và tiếng Anh; đồng thời xem xét các loại câu đùa do sự mơ hồ của ngôn ngữ gây ra và cân nhắc khả năng sử dụng chúng trong việc dạy/ học một ngôn ngữ nước ngoài. Ngoài ra chúng tôi cũng tìm thấy công trình nghiên cứu “Comparative study of humor mechanisms in Korean and Vietnamese” (Đối chiếu cơ chế gây cười trong tiếng Hàn và tiếng Việt) của tác giả Hoàng Thị Kim Dung (2020) mục đích của nghiên cứu này là phân loại cơ chế gây cười một cách đơn giản và rõ ràng để có thể sử dụng và vận dụng so sánh việc sử dụng cơ chế gây cười giữa tiếng Hàn và tiếng Việt, phân loại 2.072 ngữ liệu trong tiếng Hàn và tiếng Việt; 12 tìm ra điểm tương đồng và dị biệt trong cơ chế tạo ra tiếng cười ở hai ngôn ngữ. Về tình hình nghiên cứu liên quan đến “Phép lịch sự” 1.
Trên thế giới “Lý thuyết lịch sự” Lakoff (1973), Brown và Levinson (1987), Leech (1983) phát triển, đều nhấn mạnh quan điểm “lịch sự” trong lý thuyết về ngữ dụng học. Nhà ngôn ngữ học Lakoff - Người tiên phong cho lý thuyết lịch sự hiện đại, theo Lakoff lịch sự là phương tiện để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn, đề xuất hai quy tắc sử dụng ngôn ngữ: Quy tắc diễn đạt rõ ràng và quy tắc lịch sự. Dựa trên các nguyên tắc hợp tác của Grice, “lý thuyết lịch sự” được đề xuất bởi Geoffrey Leech vào năm 1983 trong cuốn sách “Principles of Pragmatics” (Nguyên tắc ngữ ngữ học ứng dụng). Dựa trên khái niệm “thiệt” (cost) và lợi (benefit) giữa người nói và người nghe, theo Leech thì siêu quy tắc lịch sự của ông gồm 6 phương châm lịch sự lớn và một số phương châm phụ khác: phương châm khéo léo, phương châm rộng rãi, phương châm khiêm tốn, phương châm tán thưởng, phương châm tán đồng và phương châm thiện cảm.
Khái niệm “thể diện” của Goffman được Brown và Levinson vận dụng để xây dựng lý thuyết về lịch sự với cách hiểu: “Thể diện là hình ảnh của bản thân trước người khác” (public self-image), khái niệm về thể diện (face), gồm thể diện âm tính (negative face) và thể diện dương tính (positive face)., và Scollon, SW (1995) nổi tiếng với cuốn sách mang tính cách mạng về giao tiếp đa văn hóa - “Intercultural communication: a discourse approach”. Tư duy lịch sự của họ xoay quanh khái niệm “tương tác bằng lời nói” và theo Scollon, R., và Scollon, SW thì lịch sự bao gồm: hệ thống lịch sự đoàn kết, hệ thống lịch sự tôn trọng, cũng như hệ thống lịch sự phân cấp. Yule (1997) cho rằng lịch sự với tư cách là phương tiện giữ gìn thể diện cho đối tác giao tiếp. Ở Hàn Quốc Bàn về vấn đề lịch sự trong tiếng Hàn, khởi đầu cho vấn đề “lịch sự” trong tiếng Hàn bắt đầu từ công trình của Cho Joon Hak (1980) và sau đó là các công trình của Im Young Hoe (1990), Kim Hae Sook (1991), Jeon Hye Young (1995), Kim Sun Hoe (1996), Lee Won Pyo (1996), No Eun Hoe (1999), Gu Hyeon Jeong (2001, 2004), Jeon Hye Young (2004), Jeon Jeong Mi (2007) và nhiều nghiên cứu khác.
Chúng tôi tìm thấy một số nghiên cứu nổi tiếng như: Jeon Hye Young (2004), “한국어 공손표현의 의미” (Ý nghĩa của biểu hiện lịch sự trong tiếng Hàn) cho thấy rằng biểu hiện “lịch sự” trong 13 diễn đạt tiếng Hàn rất quan trọng và cần thiết. Diễn đạt lịch sự trong tiếng Hàn, sử dụng đa dạng từ vựng (kính ngữ), ngữ pháp và phụ thuộc vào ngữ cảnh. Ngoài ra bài nghiên cứu còn tìm hiểu về cơ sở ngữ nghĩa của diễn đạt lịch sự. Năm 2005, Jeon Hye Young tiếp tục với bài nghiên cứu về lịch sự với chủ đề “한국어 공손표현의 교육 방안” (Phương pháp giảng dạy biểu hiện lịch sự trong tiếng Hàn).