CHƯƠNG I : KHẢO SÁT TƯ LIỆU VỀ TRUYỀN TRUYẾT LẬP QUỐC PHÍA NAM TRUNG QUỐC VÀ PHÍA BẮC VIỆT NAM.1 Khái niệm về truyền thuyết lập quốc .1 Khảo sát các bản kể về truyền thuyết lập quốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam .2 Khảo sát các bản kể về truyền thuyết lập quốc khu vực phía Nam Trung Quốc. Trang 32 CHƯƠNG II : NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT VỀ KIỂU TRUYỆN VÀ KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỀN THUYẾT LẬP QUỐC GIỮA HAI KHU VỰC 2.1 Phân loại kiểu truyện lập quốc ở Việt Nam.2 Phân loại kiểu truyện lập quốc ở Trung Quốc .3 Kiểu nhân vật trong truyền thuyết lập quốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam .1 Nguồn gốc xuất thân của nhân vật .2 Hành động và công trạng của nhân vật .4 Kiểu nhân vật ở khu vực phía Nam Trung Quốc .1 Nguồn gốc xuất thân của nhân vật .2 Hành động và công trạng của nhân vật. Trang 67 CHƯƠNG III : NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT VỀ MOTIF TRONG TRUYỀN THUYẾT LẬP QUỐC CỦA HAI KHU VỰC 3.1 Những tương đồng về motif.1 Motif “Người anh hùng lên ngôi vua” ở Việt Nam .2 Motif “Người anh hùng lên ngôi vua” ở Trung Quốc .3 Motif “Vật thiêng phép lạ” ở Việt Nam .4 Motif “Vật thiêng phép lạ” ở Trung Quốc .5 Motif “Trứng nở thành người” của hai khu vực .6 Motif “Người trợ giúp thần kỳ” của hai khu vực .2 Motif “Người anh hùng chiến trận” .2 Vật tổ biểu trưng của dân tộc .1 Vật tổ Rồng .2 Vật tổ Chim.3 Những motif dị biệt ở khu vực phía Bắc Việt Nam .1 Mối xung đột giữa con người với thiên nhiên trong quá trình dựng nước .2 Mối bất hòa giữa các thủ lĩnh trong bộ tộc. Trang 110 KẾT LUẬN.
Trang 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Trang 115 PHỤ LỤC.Lý do chọn đề tài Truyện kể dân gian - là một bộ phận không thể thiếu trong việc cấu thành nền văn hoá của mỗi dân tộc. Khi so sánh truyện kể dân gian của các dân tộc khác nhau cũng chính là cơ hội để hiểu thấu đáo hơn về đặc điểm cũng như giá trị của truyện kể dân gian, càng hiểu hơn về quy luật sản sinh, cũng như những ảnh hưởng của nó trong nền văn hoá của mỗi dân tộc nói riêng và nền văn hoá nhân loại nói chung. Chính vì thế, khi so sánh truyện kể dân gian của Trung Quốc và Việt Nam, ta sẽ tìm thấy những mối quan hệ thâm sâu về lịch sử văn hóa giữa hai dân tộc.
Gần đây, luận án tiến sĩ của một giáo viên người Trung Quốc - Đường Tiểu Thi với tựa đề : “So sánh type truyện “Cô bé Lọ Lem” ở khu vực phía Nam Trung Quốc và phía Bắc Việt Nam” đã phần nào cho thấy truyện kể dân gian của hai khu vực thực sự có quan hệ thâm sâu mang đến những nhận thức thú vị. Nó gợi ý cho hướng đề tài này của luận văn. Về vấn đề truyền thuyết lập quốc, trong kho tàng truyện cổ Việt Nam vẫn là một vấn đề chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. Từ thế kỷ XV, trong “Việt điện U Linh”, các nhân vật đều được các sử gia phong kiến hoá thân thành nhân vật lịch sử.
Đấy chính là quy luật của nhận thức, vì vậy ranh giới giữa lịch sử với truyền thuyết khá mơ hồ. Nó tượng trưng cho sức mạnh lý tưởng và nguyện vọng cao cả của nhân dân trong cuộc đấu tranh nhằm khai thác thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù xâm lược, lập nên bờ cõi. Đến “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã hệ thống hoá những truyện thần thoại gần như bị “biến tướng” trong dân gian để dựng nên buổi bình minh lịch sử của tổ tiên, như họ Hồng Bàng và nhà nước Văn Lang; nhà Thục và nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương. Tuy Ngô Sĩ Liên không 1 2 tin vào những điều kì bí, thế nhưng ông vẫn viết : “…Thánh hiền sinh ra, tất có khắc thường, đó là do mệnh trời mà sinh, như nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương, dẫm vết chân khổng lồ mà sinh ra nhà Chu … Con cháu nhà vua Thần Nông là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh ra Kinh Dương Vương, tức là thuỷ tổ của Bách Việt.
Kinh Dương lấy con gái Thần Nông mà sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà sinh trăm con trai. Chẳng phải cơ nghiệp của nước Việt ta đã gây nên như thế ru!” ( Trích : Lời bàn của sử thần Ngô Sĩ Liên trong phần “Kỉ Hồng Bàng Thị” – Đại Việt sử ký toàn thư). Như vậy, qua những thư tịch trên có thể thấy ký ức của bao thế hệ tiền nhân luôn khẳng định lịch sử lập quốc như là một bộ phận không thể thiếu trong tâm thức người Việt.
Truyền thuyết – mà đặc biệt hơn cả là truyền thuyết lập quốc là những câu chuyện – tuy chưa được nghiên cứu một cách bài bản, nhưng lại được phổ biến một cách rộng rãi trong nhân dân. Không chỉ có nội dung phong phú mà type truyện về thể loại này rất đỗi quen thuộc đối với nhân dân của cả hai khu vực : phía Nam Trung Quốc và phía Bắc Việt Nam trong quá khứ. Nghiên cứu, tìm hiểu truyền thuyết lập quốc của hai khu vực trên cũng chính là tìm hiểu kỹ hơn về nguồn gốc, về mối quan hệ khăng khít giữa miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam. Đó cũng chính là lý do khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài này cho luận văn của mình.
Lịch sử vấn đề 02.1 Lược điểm lịch sử nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam và Trung Quốc. Truyền thuyết xuất hiện từ rất sớm, thế nhưng, thuật ngữ truyền thuyết và quá trình nghiên cứu truyền thuyết một cách bài bản lại ra đời khá muộn màng. Giáo trình đầu tiên của Việt Nam có nhắc đến vai trò của truyền thuyết, đó là giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” của tác giả Đỗ Bình Trị. Trong giáo trình này, tác giả coi truyền thuyết như là một thể loại và định nghĩa : “Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu – là lịch sử hoang đường” [73, tr20].
Từ năm 1960 – 1965, trên tạp chí nghiên cứu văn học luôn xuất hiện những bài viết, những cuộc tranh luận sôi nổi về truyền thuyết “Mị Châu - Trọng Thuỷ”. Đây là đề tài mà đã làm các nhà nghiên cứu hao công tốn mực nhất, và cho đến nay vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Báo nhân dân ngày 29 tháng 04 năm 1969 có bài viết : “Nhân ngày giỗ tổ Vua Hùng” của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nội dung của bài báo cũng là những vấn đề mấu chốt về mối quan hệ giữa truyền thuyết và lịch sử.
Một công trình lớn nghiên cứu về truyền thuyết của các tác giả Nguyễn Ngọc Côn, Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia Khánh cũng phần nào cho thấy truyền thuyết được xem như là một ngành khoa học thực thụ. Trong những đóng góp to lớn đó, chuyên luận “Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến” của tác giả Kiều Thu Hoạch được đánh giá cao và gây chú ý trên văn đàn. Trong chuyên luận của mình, tác giả định nghĩa và phân loại truyền thuyết đồng thời đưa ra những cái nhìn tổng quát và những kiến giải sâu sắc về bản chất thể loại. Tác giả định nghĩa : “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng năm trong một 3 4 loại hình tự sự dân gian : nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan điểm của nhân dân; Biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại ; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận các nhân mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở “sự thật lịch sử cụ thể chứ không hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tưởng” [23, tr175 ].
Năm 1973, tác giả Nguyễn Khắc Xương trong bài viết “Tìm hiểu quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng tín ngưỡng phong tục” đã nêu lên được mối quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và các lễ hội dân gian. Theo ông, “thần thoại, truyền thuyết lưu truyền bằng miệng trong dân gian đã được tái hiện cụ thể và sinh động trước nhân dân qua nghệ thuật diễn xướng hỗn hợp” [82, tr2]. Bàn luận về vấn đề nghiên cứu truyền thuyết, năm 1974, nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh, trong tác phẩm “Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam” có chương “Dòng tự sự lịch sử với nền độc lập nước nhà và những gương công đức tài tử An Dương Vương đến đầu Lê” cũng tìm hiểu về truyền thuyết. Ông không đi sâu vào vấn đề phân loại cũng như định nghĩa về truyền thuyết mà chỉ đi vào phân tích các tác phẩm cụ thể mà thôi.
Nhưng bấy nhiêu đó cũng đủ để cho người đọc tiếp thu được những kiến thức quý báu về lý luận, những gợi ý của tác giả về thể loại này. Cũng tìm hiểu về thể loại truyền thuyết, tác giả Bùi Quang Thanh trong bài viết “Truyền thuyết dân gian với tâm lý cộng đồng người Việt”, đăng trên tạp 4 5 chí văn học số 2 năm 1982 có nhận định : “Cũng từ miếng đất hội làng, các tác giả góp phần thiết thực thức tỉnh niềm đam mê mất nước, nỗi nhục nô lệ, ý thức về sự thống nhất như một lẽ sống còn, ý thức thà chết chứ không cam chịu sống quì cho người Việt Nam trên các chặng đường lịch sử” [64, tr68]. Từ khi truyền thuyết trở thành một ngành khoa học thực thụ, đã có biết bao nhà nghiên cứu, cũng như các công trình nghiên cứu chuyên về thể loại này. Năm 1990, tác giả Lê Chí Quế trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” cũng đã dành hẳn một chương cho truyền thuyết.
Không chỉ vậy, Lê Chí Quế còn vẽ lên bộ mặt mới cho thể loại truyền thuyết trên cái khung là định nghĩa và những phân tích dẫn chứng. Tác giả Chiêng Xom An trong bài viết “Bàn thêm về thể loại truyền thuyết” cũng điểm lại một loạt các định nghĩa về truyền thuyết của các học giả, song song đó là đưa ra phân tích cũng như phê phán, từ đó đưa ra quan niệm mới về truyền thuyết.