Tổng quan luận án

Đề tài "So sánh truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Chí Quế, thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 01 25) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực tế truyện cổ tích thần kì là một tiểu loại tiêu biểu của loại hình tự sự dân gian, vừa mang tính dân tộc sâu sắc vừa mang tính quốc tế rộng rãi. Trên thế giới và tại Việt Nam, việc ứng dụng các phương pháp loại hình học, tra cứu hệ thống type và motif (theo bảng mục lục Aarne - Thompson) đã đạt được nhiều thành tựu khi so sánh văn học dân gian Việt Nam với Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Tuy nhiên, Ấn Độ là cái nôi văn minh lớn của châu Á với nền văn hóa có sức lan tỏa mạnh mẽ sang Đông Nam Á và Việt Nam, nhưng việc nghiên cứu truyện cổ tích Ấn Độ tại Việt Nam nhìn chung chưa được quan tâm tương xứng, đặc biệt trong phân môn văn học so sánh hầu như vắng bóng các công trình so sánh chuyên sâu giữa truyện cổ tích hai quốc gia.

Mục đích nghiên cứu của luận án là so sánh một số type truyện cổ tích thần kì của Việt Nam và Ấn Độ từ phương diện kết cấu và motif nhằm xác định những nét tương đồng, khác biệt; tìm hiểu mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu văn hóa và làm sáng tỏ bản chất, đặc trưng loại hình thể loại của hai nước. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Sưu tầm, tập hợp, dịch thuật và hệ thống hóa các văn bản truyện thuộc type "Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường" cùng nhóm type "Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt" của Việt Nam và Ấn Độ.
  2. Khảo sát, đối chiếu và so sánh về phương diện kết cấu cốt truyện cùng các motif chính tham gia xây dựng nhân vật.
  3. Rút ra các điểm tương đồng, khác biệt và lý giải nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm đó trên cơ sở điều kiện tự nhiên, lịch sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo và phương thức tư duy.

Đối tượng nghiên cứu là tiểu loại truyện cổ tích thần kì của Việt Nam và Ấn Độ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hai nhóm type truyện tiêu biểu: type "Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường" và nhóm type "Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt". Luận án khảo sát tổng cộng 131 bản kể (96 bản kể Việt Nam và 35 bản kể Ấn Độ) từ các tuyển tập văn học dân gian đã xuất bản, đồng thời khảo sát các phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian có liên quan đến các tình tiết và motif trong truyện.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả đã điểm lại lịch sử sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu truyện cổ tích thần kì ở cả hai quốc gia:

Về phía Việt Nam, lịch sử văn bản truyện kể dân gian được ghi nhận từ các thư tịch cổ thời trung đại như Giao chỉ ký, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả. Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có các công trình của Trương Vĩnh Ký (Chuyện khôi hài, Chuyện đời xưa), Nguyễn Văn Ngọc (Truyện cổ nước Nam). Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX trở đi ghi nhận các tuyển tập quy mô: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, 5 tập), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập VI, VII do Nguyễn Thị Huế chủ biên), Truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Cừ), cùng hệ thống sách sưu tập truyện cổ dân tộc thiểu số và địa phương (Tây Nguyên, Mèo/H'mông, Mường, Tày - Nùng, Thái, Dao, Ba Na, Ê đê, v.v.). Về mặt nghiên cứu lý luận và thể loại, các học giả như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, Nguyễn Bích Hà, Vũ Anh Tuấn đã định danh bản chất, phân loại tiểu loại và chỉ ra ranh giới giữa truyện cổ tích với thần thoại, truyền thuyết. Về nghiên cứu loại hình, cấu trúc, type và motif, các công trình tiêu biểu gồm: Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (Đinh Gia Khánh, 1968), các bài giới thiệu phương pháp loại hình học của Lê Chí Quế (1990), giới thiệu bảng tra cứu type và motif của Nguyễn Tấn Đắc (1990, 2001), nghiên cứu hình thái học theo V. Propp của Trần Đức Ngôn (1991), nghiên cứu motif của La Thị Mai Gia (2015), và công trình biên soạn Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam của Nguyễn Thị Huế cùng nhóm nghiên cứu (2012).

Về phía Ấn Độ và quốc tế, các công trình nghiên cứu truyện kể dân gian Ấn Độ được điểm lại gồm: cách phân loại truyện dân gian theo bối cảnh nhân vật của A.K. Ramanujan (Folktales from India), phân loại theo chức năng giáo huấn, tôn giáo của K. Upadhyaya (Classification and Chief Characteristics of Indian Folk Tales), công trình nhận diện type truyện The Types of Indic Oral Tales của Stith Thompson và Warren E. Roberts (1960), The Oral Tales of India của Stith Thompson và Jonas Balys (1958), cùng các bài nghiên cứu bản chất truyện dân gian của Shubha Tiwari và Silima Nanda.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Việc nghiên cứu so sánh đối chiếu trực tiếp giữa truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ theo phương pháp loại hình học cấu trúc - motif chưa từng được thực hiện một cách có hệ thống trong giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát thực chứng 16 type tương đồng và phân tích chuyên sâu 2 nhóm type cụ thể trên bình diện văn bản học và liên ngành văn hóa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên:

  • Khái niệm và đặc trưng thể loại: Truyện cổ tích thần kì là tiểu loại tự sự dân gian nảy sinh khi công xã thị tộc tan rã và phát triển trong xã hội có giai cấp; lấy hư cấu thần kì làm thủ pháp nghệ thuật cơ bản để phản ánh hiện thực xã hội, số phận con người và truyền tải các giá trị đạo đức, thẩm mỹ.
  • Khái niệm Type và Motif theo trường phái Phần Lan và nhân học/cấu trúc phương Tây: Vận dụng hệ thống phân loại của Antti Aarne và Stith Thompson (Hệ thống A-T), lý thuyết của Stith Thompson trong The Folktale (1977), kết hợp với Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam (Nguyễn Thị Huế chủ biên) và The Types of Indic Oral Tales (Stith Thompson & Warren E. Roberts). Type được xác định là cốt truyện hoàn chỉnh tồn tại độc lập; Motif là đơn vị/thành tố cấu tạo nhỏ nhất có tính bền vững tạo nên cốt truyện và hình tượng nhân vật.
  • Khung cấu trúc tự sự: Phân loại kết cấu tự sự thành 3 dạng thức chính: kết cấu tuyến tính (kể theo trật tự thời gian diễn tiến sự việc), kết cấu nhiều tầng bậc (chia thành nhiều chặng đường, chiến công nối tiếp nhau) và kết cấu đồng quy (sự phát triển song song của các tuyến nhân vật đối lập trải qua thử thách tương tự nhưng nhận kết quả trái ngược).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp so sánh loại hình: So sánh, đối chiếu các bản kể tương đồng giữa Việt Nam và Ấn Độ về mặt kết cấu và motif nhằm tìm ra điểm chung về loại hình tự sự dân gian và sự khác biệt do đặc trưng dân tộc.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng văn bản, tỷ lệ xuất hiện của các dạng thức motif (motif xuất thân, motif bạn đồng hành, motif trợ giúp, motif ban thưởng, motif trừng phạt) để làm căn cứ định lượng cho các nhận định định tính.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Khảo cứu cấu trúc văn bản, nội dung phản ánh, hành động của nhân vật để tổng hợp thành các mô hình cốt truyện và giá trị thẩm mỹ.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tiếp cận truyện kể dân gian dưới các góc độ văn học, lịch sử, văn hóa học, địa lý sinh thái, dân tộc học và tôn giáo học để lý giải nguồn gốc lịch sử - xã hội của các motif và sự khác biệt về tư duy giữa hai dân tộc.

Nguồn tư liệu khảo sát gồm 131 bản truyện cổ tích thần kì:

  • Nguồn tư liệu Việt Nam (96 bản kể): Trích từ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 6, 7), Truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Cừ), cùng các tập truyện cổ của các dân tộc H'mông, Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Hà Nhí, Lô Lô, Phù Lá, Xơ Đăng, Ba Na, Chăm, Khơ-me, v.v.
  • Nguồn tư liệu Ấn Độ (35 bản kể): Khảo sát từ 20 tuyển tập truyện dân gian Ấn Độ bằng tiếng Anh (A Collection of Kachari Folktales and Rhymes, Santal Folk Tales, The Orient Pearls, Village Folk-Tales of Ceylon, Tales of the Punjab, Bengal Fairy Tales, Folklore in Western India, Folk Tales of Kashmir, Indian Fairy Tales, v.v.). Trong 35 truyện này, 5 bản kể đã có bản dịch tiếng Việt, 30 bản kể còn lại do chính tác giả luận án trực tiếp dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm công cụ, khung lý thuyết và tổng quan lịch sử nghiên cứu. Tác giả phân tích ranh giới thể loại giữa truyện cổ tích với thần thoại, truyền thuyết; phân tích cách phân loại truyện cổ tích ở Việt Nam (loài vật, thần kì, sinh hoạt) và Ấn Độ (theo A.K. Ramanujan: truyện lấy nam giới làm trung tâm, nữ giới làm trung tâm, động vật làm trung tâm; theo K. Upadhyaya: truyện tôn giáo, giáo huấn, tình yêu, giải trí, truyền thuyết địa phương, huyền thoại).

Trên cơ sở đối chiếu Bảng mục lục type của Aarne - Thompson, danh mục type truyện Ấn Độ của Thompson - Roberts và Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam, tác giả nhận diện được 26 type truyện cổ tích thần kì tương đồng giữa hai quốc gia (bên cạnh 5 type truyện loài vật và 20 type truyện sinh hoạt tương đồng).

Mã số Type Việt Nam Tên Type Việt Nam Mã số Type Ấn Độ Tên Type Ấn Độ
215 Ai mua hành tôi 516B Nàng công chúa bị bắt cóc (Tình yêu khi thấy sợi tóc nổi trên mặt nước)
216 Ăn trộm bảo vật của yêu tinh 328 Cậu bé ăn trộm kho báu của người khổng lồ
218 Cây tre trăm đốt 571 Tất cả đều dính vào nhau
219 Chàng đốn củi và con tinh 563 Cái bàn, con la và cái gậy
223 Chàng trai khỏe và những người bạn có khả năng khác thường 301B Người đàn ông khỏe mạnh và những người bạn đồng hành
226 Chum vàng và chum rắn 834A Chum vàng và chum rắn
232 Cô gái và chiếc thoi dệt vải bị đánh rơi 480 Cô gái tốt bụng và cô gái xấu bụng
233 Con chim khách màu nhiệm 567 Trái tim chim màu nhiệm
238 Con hùm bị lừa bởi những vật dụng đưa ra đọ sức 1152 Con yêu tinh nể sợ những vật được trưng bày
240 Con quỷ trong cái lọ 331 Vị thần trong cái chai
243 Cuộc phiêu lưu của những người anh em trai 303 Anh em sinh đôi hay những người anh em trai
244 Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán 160 Những con vật biết ơn, con người không biết ơn
248 Đứa trẻ bị bỏ rơi và con hổ 535 Cậu bé là con nuôi của hổ
254 Hai cô gái và cục bướu 503 Món quà của người tí hon
257 Hợp sức giết con vật hung ác 210 Gà trống, gà mái, đinh ghim, cái kim trong chuyến hành trình
260 Lũ trẻ lừa yêu tinh và trốn thoát 327 Con yêu tinh và bọn trẻ
264 Tôm ngón tay cái 700 Cậu bé tí hon
266 Nghề đặc biệt 653 Bốn anh em khéo léo
271 Người chồng bị hành hạ vì có người vợ đẹp 465 Người đàn ông bị hành hạ vì có vợ đẹp
273 Người chồng là người mang lốt động vật 425A Người chồng là động vật
277 Người giết rắn cứu công chúa 300 Người giết rồng
289 Những điều bí mật của các con vật 613 Hai người lữ khách
292 Những người anh em thông thái 655 Những người anh em thông thái
315 Tấm Cám (Cô bé Lọ Lem) 510A Cô bé Lọ Lem
317 Tấm lòng vàng được thưởng bằng vàng 750B Lòng hiếu khách được ban thưởng
318 Thỏa thuận chia nông sản 1030 Chia lương thực

Chương 2: So sánh type truyện "Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường" trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

Chương 2 tiến hành khảo sát và so sánh chuyên sâu type truyện mang mã số 223 (Việt Nam) và 301B (Ấn Độ). Về mặt kết cấu, tác giả lập bảng thống kê so sánh kết cấu giữa các bản kể hai nước, chia thành hai dạng thức: kết cấu tuyến tính và kết cấu nhiều tầng bậc. Cốt truyện diễn tiến qua các chặng: nhân vật chính ra đời kì lạ $\rightarrow$ bộc lộ sức mạnh/tài năng $\rightarrow$ thu phục các bạn đồng hành có biệt tài $\rightarrow$ cùng nhau vượt qua thử thách, tiêu diệt quái vật hoặc hoàn thành nhiệm vụ $\rightarrow$ lập chiến công và được ban thưởng.

Về hệ thống motif, chương 2 chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt:

  • Motif xuất thân kì lạ / sinh nở thần kì (T550): Nhân vật sinh ra từ sự thụ thai bất thường (mẹ uống nước trong hang đá, ăn hoa quả lạ, vết chân thần, sinh ra từ tảng đá, quả dưa, mang lốt động vật).
  • Motif tài năng vượt trội - sức khỏe phi thường và bạn đồng hành khác thường (F610): Nhân vật có sức ăn phi thường, thể lực khổng lồ; trên đường đi thu nạp các nhân vật có dị năng bổ trợ (như người dời núi, người nhổ cây, người tát cạn biển, người bắn tên trúng đích từ xa, người có tai nghe thấu trăm dặm, người có tài chạy nhanh).
  • Motif chiến công và sự ban thưởng: Nhân vật diệt trừ quỷ dữ, chằn tinh, thú dữ bảo vệ cộng đồng và được gả công chúa, chia sẻ tài sản.
  • Các motif đặc thù xuất hiện trong bản kể Ấn Độ: Luận án chỉ ra các motif gắn liền với thi pháp truyện kể Ấn Độ mà bản kể Việt Nam không có hoặc ít xuất hiện, gồm: Motif tình yêu qua sợi tóc trôi sông của nàng công chúa chưa biết mặt (T11.1), Motif linh hồn được cất giấu ở vật thể bên ngoài (E710 - tính mạng của yêu tinh giấu trong con chim sẻ, con ong hoặc hộp kính dưới đáy biển), và Motif dấu hiệu sinh tử (E761 - cây trồng bị héo hoặc nước đổi màu khi nhân vật gặp nạn).

Chương 3: So sánh nhóm type truyện "Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt" trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

Chương 3 khảo sát nhóm type truyện về xung đột đạo đức - xã hội, bao gồm các type tương đồng tiêu biểu như: type Tấm Cám / Cô bé Lọ Lem (type 315 / 510A), Cây khế / Hai anh em (type 289 / 613), Hai cô gái và cục bướu (type 254 / 503), Chum vàng và chum rắn (type 226 / 834A), Lòng hiếu khách được ban thưởng (type 317 / 750B).

Về kết cấu, nhóm type này vận hành chủ yếu theo kết cấu đồng quy (song hành đối lập) và kết cấu tuyến tính. Hai tuyến nhân vật chính diện (người mồ côi, người con riêng, người em út nghèo khó, cô gái nghèo hiền lành) và phản diện (người anh tham lam, mẹ kế độc ác, phú ông gian xảo) lần lượt trải qua những hoàn cảnh hoặc chuỗi hành động giống nhau nhưng nhận kết quả đối lập nhau.

Về hệ thống motif, tác giả phân tích:

  • Motif sự trợ giúp thần kì: Nhân vật tốt bụng khi rơi vào bế tắc nhận được sự cứu trợ từ lực lượng siêu nhiên (Bụt, Tiên, chim thần, cá bống trong truyện Việt Nam; thần Shiva, nữ thần Parvati, tu sĩ Jogi, rắn thần Naga, bò thần trong truyện Ấn Độ).
  • Motif cái thiện được ban thưởng: Hình thức ban thưởng gồm vàng bạc, ngọc ngà, chữa lành dị tật thể xác (mất cục bướu, khỏi chột mắt), trở nên xinh đẹp, kết hôn với hoàng tử/vua, có cuộc sống sung túc.
  • Motif cái ác bị trừng phạt: Nhân vật xấu bụng phải chịu sự trừng phạt thích đáng như bị quái vật ăn thịt, rắn cắn chết, rơi xuống vực, bị biến dạng cơ thể (mọc thêm bướu, bị biến thành lừa/chó).
  • Motif sự bắt chước thất bại: Kẻ xấu thấy người tốt được thưởng liền tìm cách sao chép hành vi nhằm trục lợi nhưng do động cơ tham lam và tâm địa tàn nhẫn nên đã nhận lấy tai họa và sự hủy diệt.

Chương 4: Lý giải sự tương đồng và khác biệt trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

Chương 4 thực hiện nhiệm vụ tổng hợp và giải thích nguyên nhân của các hiện tượng tương đồng và khác biệt:

Về sự tương đồng:

  1. Tương đồng loại hình học: Cả hai nền văn học đều trải qua giai đoạn chuyển giao từ công xã nguyên thủy sang xã hội phân chia giai cấp. Nhân dân lao động hai nước đều sử dụng phương thức tư duy nghệ thuật lãng mạn dân gian, gửi gắm ước mơ về công lý, cái thiện chiến thắng cái ác, khẳng định sức mạnh đoàn kết cộng đồng.
  2. Tương đồng do giao lưu tiếp biến văn hóa: Mối quan hệ lịch sử lâu đời giữa văn hóa Ấn Độ và Việt Nam thông qua con đường thương mại và sự truyền bá của Phật giáo, Ấn Độ giáo vào Đông Nam Á đã tạo nên sự tương đồng, tương nhập của một số cốt truyện và motif thần kì.

Về sự khác biệt:

  1. Môi trường sinh thái và lịch sử tộc người: Việt Nam là nền văn minh nông nghiệp lúa nước gắn với đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và rừng nhiệt đới gió mùa; cốt truyện mang tính chất gắn bó với làng quê, thiên nhiên quen thuộc. Ấn Độ là tiểu lục địa rộng lớn với địa hình sa mạc, núi tuyết Himalaya, rừng rậm rạp, sản sinh ra những hình tượng không gian bao la, nhân vật khổng lồ và các loài thú dữ đặc thù (hổ, voi, rắn hổ mang).
  2. Phong tục tập quán và văn hóa sinh hoạt: Bản kể Việt Nam phản ánh tục ăn trầu, nhuộm răng, làm bánh chưng, giã gạo, cấu trúc gia đình phụ quyền thuần nông. Bản kể Ấn Độ in đậm phong tục phân chia đẳng cấp (Brahmin, Kshatriya, Vaishya, Shudra), tục thiêu xác, của hồi môn, nghi lễ tôn giáo khắt khe và hôn nhân đa thê mang màu sắc phong kiến Ấn Độ.
  3. Ảnh hưởng của tôn giáo và tín ngưỡng: Truyện Việt Nam mang đậm tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ cúng tổ tiên, Đạo Mẫu kết hợp với Phật giáo dân gian hóa (Bụt đóng vai trò như vị thần bảo hộ giàu lòng từ bi). Truyện Ấn Độ chịu sự chi phối trực tiếp của hệ thống thần linh Ấn Độ giáo (Tam thần Trimurti: Brahma, Vishnu, Shiva và các nữ thần Parvati, Lakshmi, Kali), thuyết luân hồi (Samsara), luật Nhân quả (Karma) và các nghi thức khổ hạnh của tu sĩ Bà La Môn (Jogi, Sadhu).
  4. Phương thức tư duy: Người Việt mang đặc trưng tư duy thực tiễn, duy lý cụ thể, gắn chặt với thiết chế làng xã và đạo lý gia đình. Người Ấn Độ mang đặc trưng tư duy siêu hình, triết lý trừu tượng, giàu trí tưởng tượng tâm linh vũ trụ, tạo nên các lớp truyện nhiều tầng bậc và yếu tố ma thuật kì ảo phức tạp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:

  • Về kết quả nghiên cứu: Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu so sánh một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ. Luận án khảo sát, đối chiếu 16 type truyện tương đồng gồm 131 bản kể trên hai bình diện cấu trúc kết cấu và motif nghệ thuật, từ đó phân tích các quy luật loại hình và giải mã nguyên nhân văn hóa - lịch sử - tôn giáo dẫn đến sự tương đồng và dị biệt.
  • Về mặt tư liệu: Luận án dịch mới từ tiếng Anh sang tiếng Việt 30 bản kể truyện cổ tích thần kì Ấn Độ, bổ sung nguồn văn bản thực chứng giá trị phục vụ trực tiếp cho việc đối sánh và giới thiệu diện mạo truyện dân gian Ấn Độ tại Việt Nam.
  • Về mặt nghiên cứu và giảng dạy: Cung cấp tư liệu tham khảo, khung phân tích cho các học phần chuyên môn trong trường đại học như: Văn học dân gian Việt Nam, Văn học Ấn Độ, Văn học so sánh, Nghiên cứu văn học dân gian theo phương pháp loại hình, Motif văn học dân gian Việt Nam và châu Á.
  • Về mặt đối ngoại và giao lưu văn hóa: Góp phần thúc đẩy sự hiểu biết liên văn hóa giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Ấn Độ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Về kiến nghị và giải pháp học thuật: Tác giả kiến nghị đẩy mạnh hơn nữa việc dịch thuật, giới thiệu các tuyển tập truyện kể dân gian nguyên bản của các nước phương Đông vào Việt Nam; tăng cường vận dụng phương pháp so sánh loại hình kết hợp với nghiên cứu liên ngành văn hóa - nhân học để nâng cao tính khoa học trong nghiên cứu folklore học nước nhà.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung văn bản luận án xác lập, các giới hạn nghiên cứu được ghi nhận gồm:

  • Luận án tập trung khảo cứu sâu vào 2 nhóm type cụ thể (type Chàng trai khỏe và nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng - Kẻ xấu bụng bị trừng phạt) trong tổng số 26 type truyện cổ tích thần kì tương đồng được nhận diện; chưa thể bao quát toàn bộ 26 type tương đồng ở mức độ phân tích chi tiết từng motif.
  • Nguồn tư liệu truyện dân gian Ấn Độ chủ yếu tiếp cận qua các bản sưu tầm, dịch thuật bằng tiếng Anh của các học giả phương Tây và Ấn Độ thời kỳ trước, chưa tiếp cận trực tiếp từ các văn bản bằng tiếng Phạn (Sanskrit), tiếng Hindi hoặc các ngôn ngữ địa phương nguyên bản của Ấn Độ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra là tiếp tục mở rộng khảo sát các type truyện tương đồng còn lại (như type người mang lốt động vật, dũng sĩ diệt đại bàng/rắn thần cứu người đẹp, mượn lốt), đồng thời mở rộng so sánh truyện kể dân gian Việt Nam với các nền văn học dân gian khác trong khu vực châu Á.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học, Văn học dân gian, Văn học so sánh, Văn hóa học, Đông phương học và Ấn Độ học.
  • Giảng viên giảng dạy các chuyên đề văn học dân gian, thi pháp thể loại tự sự dân gian, lý thuyết văn học so sánh và văn hóa phương Đông.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến phương pháp phân loại type và tra cứu motif theo hệ thống Aarne - Thompson (A-T).

Các nội dung đáng tham khảo chuyên sâu gồm:

  • Bảng nhận diện và quy chiếu 26 type truyện cổ tích thần kì tương đồng giữa Việt Nam và Ấn Độ (Chương 1).
  • Bảng thống kê chi tiết các dạng thức motif xuất thân kì lạ, chiến công, sự trợ giúp thần kì, ban thưởng và trừng phạt (Chương 2 và Chương 3).
  • Phần phân tích, giải mã sự chi phối của môi trường địa lý, thiết chế làng xã, Ấn Độ giáo và phương thức tư duy đối với thi pháp truyện cổ tích hai nước (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu văn bản truyện cổ tích và nguồn ngữ liệu cụ thể từ đâu?
Luận án khảo sát tổng cộng 131 bản kể truyện cổ tích thần kì, gồm 96 bản kể của Việt Nam (lấy từ các công trình của Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị Huế và các tuyển tập truyện cổ dân tộc thiểu số) và 35 bản kể của Ấn Độ (trích từ 20 tuyển tập tiếng Anh, trong đó có 30 bản kể do tác giả luận án trực tiếp dịch sang tiếng Việt).

2. Hai nhóm type truyện nào được tác giả lựa chọn để so sánh chuyên sâu trong luận án?
Tác giả lựa chọn 2 nhóm type:

  • Type "Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường" (Mã số Việt Nam: 223; Mã số Ấn Độ / Thompson - Roberts: 301B).
  • Nhóm type "Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt" (Bao gồm các type tương đương với hệ thống A-T như type 480, 503, 510A, 613, 834A).

3. Có những motif đặc thù nào xuất hiện trong truyện cổ tích Ấn Độ mà truyện Việt Nam không có hoặc ít gặp ở type Chàng trai khỏe?
Trong bản kể Ấn Độ thuộc type Chàng trai khỏe, tác giả chỉ ra 3 motif đặc thù:

  • Motif tình yêu qua sợi tóc của nàng công chúa chưa biết mặt trôi trên sông (mã số T11.1).
  • Motif linh hồn được cất giấu ở vật thể bên ngoài (mã số E710).
  • Motif dấu hiệu sinh tử qua cây cối hoặc màu nước (mã số E761).

4. Luận án chỉ ra sự khác biệt cốt lõi nào về phương diện tôn giáo và tư duy giữa truyện cổ tích Việt Nam và Ấn Độ?
Về tôn giáo, truyện Việt Nam gắn liền với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, đạo Mẫu và Phật giáo dân gian (hình tượng ông Bụt bình dân, cứu giúp người nghèo); truyện Ấn Độ gắn chặt với hệ thống thần linh Ấn Độ giáo (Shiva, Parvati, Vishnu), giáo lý luân hồi, nghiệp báo và tầng lớp tu sĩ Bà La Môn. Về tư duy, người Việt thể hiện tư duy thực tiễn gắn với đời sống làng xã và đạo lý gia đình; người Ấn Độ thể hiện tư duy siêu hình, triết lý, ưa chuộng sự kì vĩ và không gian tưởng tượng bao la.


Kết luận

Luận án "So sánh truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ" của NCS. Nguyễn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Văn học dân gian, vận dụng phương pháp so sánh loại hình học cấu trúc - motif để đối chiếu 131 bản kể thuộc 16 type truyện tương đồng của hai quốc gia. Thông qua việc phân tích chi tiết hai nhóm type tiêu biểu và hệ thống motif nghệ thuật, luận án đã làm rõ những điểm chung về quy luật sáng tác tự sự dân gian cũng như những nét dị biệt độc đáo bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, phong tục, tôn giáo và tư duy dân tộc. Bên cạnh đóng góp về mặt lý luận và học thuật, luận án cung cấp nguồn tư liệu dịch thuật 30 bản kể truyện dân gian Ấn Độ, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học so sánh tại Việt Nam.