CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, chúng tôi đánh giá các công trình nghiên cứu, phát triển thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đi trước để tiếp thu kiến thức về thuật ngữ. Đồng thời trình bày cơ sở lý luận mà luận văn sẽ đi theo, là cơ sở lý thuyết dé thực hiện các bước tiếp theo của nghiên cứu này. Những vấn đề lý thuyết cơ bản về thuật ngữ 1.1 Khái niệm thuật ngữ Cùng với sự phát triển của ngành khoa học Ngôn ngữ học thì thuật ngữ được hình thành và phát triển không ngừng. Công tác nghiên cứu thuật ngữ thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học ở trong nước cũng như trên toàn thế giới.
Ké từ khi thuật ngữ được các nhà nghiên cứu chú ý tới thì rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thuật ngữ được đưa ra và bàn luận. Trong các tất cả các quan điểm về thuật ngữ trong và ngoải nước đã được đưa ra và bản luận thì chúng tôi thấy được rằng: Đa số các tác giả từ góc nhìn của ngôn ngữ học đã đưa ra định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm và định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng. Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm. Xu hướng nghiên cứu thuật ngữ gắn liền với khái niệm mà nó biểu thị trước hết chúng ta phải nhắc đến quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết.S đã định nghĩa rằng: “Thudt ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thudt, .) được sang tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, .) dé biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn ” [23; tr.
Năm 1977, tiến sĩ thuật ngữ học V.Đanilencô đã cho 15 rang: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hay don) hay cụm từ déu là một ký hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó”. “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân”; “Thuật ngữ gọi tên khái niệm chuyên môn. Đặc trưng khải niệm này là ở chỗ nó không bị mat tính hoàn chỉnh dù nội dung khái niệm được diễn đạt bằng bat kì phương tiện, phương thức nào ” [21; tr12-18] Kế thừa các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết, các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ cũng xem xét thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm mà nó biéu đạt.C vào năm 1990 quan niệm rằng: “Định nghĩa về thuật ngữ gắn với sự xác định một khái niệm mà khái niệm này phản ánh một hệ thông mang tính khái niệm hình thành nên nó và phân biệt khái niệm đó với hệ thống” [22, tr. Bên cạnh đó, Oeser E (1992) định nghĩa một thuật ngữ là: “nội tap hợp các khái niệm cua một lĩnh vực chuyên mon” | 27, tr.
Ở Việt Nam, từ những năm 30-40 của thế kỷ XX, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã cho rằng thuật ngữ là danh từ khoa học. Sau này, quan điểm thuật ngữ gắn với khái niệm được các nhà Việt ngữ học tiếp tục kế thừa như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Nguyễn Thiện Giáp,. Trong đó, Đỗ Hữu Châu cho răng: “Thuật ngữ không chỉ biểu hiện một khải niệm khoa học mà con chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định, thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy. Đặc tính của những từ này là phải cô gang chỉ một nghĩa, biểu 16 thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định ” [26; tr.
Như vậy thì theo xu hướng này, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Thuật ngữ là một từ hay một cụm từ biểu đạt khái niệm của ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nào đó. Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng. Bên cạnh xu hướng nghiên cứu thuật ngữ gắn với khái niệm thì còn có xu hướng nghiên cứu thuật ngữ gắn với chức năng mà chúng biểu hiện. Các nhà ngôn ngữ học đầu tiên đưa ra quan niệm này cũng là các nhà ngôn ngữ học Xô Viết.O đã đưa ra rằng: “Thudt ngữ - day không phải những từ đặc biệt mà chỉ là những từ có chức năng đặc biệt” “Chức năng đặc biệt mà từ với tư cách thuật ngữ đảm nhiệm gọi là chức năng gọi tên ” [9, tr.
Ở Việt Nam cũng có một số nhà ngôn ngữ học cũng kế thừa quan điểm này. Trong đó, Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra rằng: “Thuật ngữ là những từ và ngữ cô định, có chức năng gọi tên chính xác các khái niệm và các đối tượng trong một phạm vi, một lĩnh vực khoa học chuyên môn ” [6, tr. Như vậy, chúng ta có thé thay rằng, các quan niệm về thuật ngữ thé hiện những góc nhìn toàn diện về công tác nghiên cứu thuật ngữ. Các quan điểm đều tập trung xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học và ứng dụng của thuật ngữ vào thực tiễn.
Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với các nhà ngôn ngữ học Xô Viết và Âu Mỹ về xu hướng định nghĩa thuật ngữ gắn liền với một khái niệm mà nó biểu thị. Như vậy khái niệm thuật ngữ được dùng trong luận văn này được tóm gọn lại như sau: Thudt ngữ là 17 những từ hoặc cụm từ biểu thị khái niệm cua sự vật, hiện tượng hay một ngành khoa học, lĩnh vực chuyên môn nào đó. Tiêu chuẩn của thuật ngữ Khi đã xác định được khái niệm của thuật ngữ là gì, thì dé xay dung được một hệ thống thuật ngữ hoàn chỉnh và không có sự nhằm lẫn trước hết cần đặt ra những tiêu chuẩn của thuật ngữ. Trong những giai đoạn đầu tiên các nhà nghiên cứu đã đưa ra một vài tiêu chí đơn giản, Ray (1963) đưa ra 2 tiêu chí cho thuật ngữ: ngắn gọn và gọi tên một khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn.
Tauli (1968) thì cho rằng thuật ngữ có 3 tiêu chí: Mang nghĩa chuyên môn chính xác; ngắn gọn về cả nghĩa và âm tiết; hài âm. 11] Ở Việt Nam, Hoàng Xuân Hãn được coi là người đầu tiên nghiên cứu và xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Việt. Theo cuỗn Danh tir khoa học được ông viết vào năm 1940 đã đưa ra đặc điểm của danh từ khoa học (thuật ngữ khoa học) là: Đủ, rành mạch và dễ nhớ. Sau đó, tác giả Lưu Vân Lăng (1968) thuật ngữ tiếng Việt phải đảm bảo 4 tiêu chí: Tính chính xác; tính bản ngữ; tính ngắn gọn; tính dễ dùng.
5-6] Sau này, Nguyễn Thiện Giáp cho răng thuật ngữ phải đáp ứng đủ 5 tiêu chí sau: Tính chính xác, tính hệ thống, tính đơn nghĩa, tính quốc tẾ, không mang sắc thái tu từ biéu cảm. 33] Trong luận văn nghiên cứu dưới đây, chúng tôi nhận thấy tất cả các tiêu chí trên là cần thiết cho một hệ thống thuật ngữ. Tuy nhiên, dé xây dựng hệ thống thuật ngữ cho bất cứ một ngành khoa học cụ thể nào cần phải xem xét trên thực tế của ngành khoa học đó và đặc thù chuyên môn. Vì vậy, việc đưa ra các tiêu chí phù hợp cho việc xây dựng hệ thống thuật ngữ cho bất kỳ ngành khoa học nào cũng cần dựa vào đặc thù chuyên môn của ngành khoa học đó.
18 Sau khi nghiên cứu và tổng hợp lại các quan điểm, chúng tôi nhận thấy rằng, thuật ngữ của một ngành khoa học cần đảm bảo các tiêu chí sau đây: Tính khoa học (bao gồm: tính chính xác, tính hệ thống và tính ngăn gọn); tính quốc tế, tính dân tộc. Các tiêu chí này được trình bày cụ thể dưới đây: 1. Tính khoa học: Tính khoa học của thuật ngữ nghĩa là một thuật ngữ phải đảm bảo được tinh chính xác, tính hệ thong và tính ngắn gon. Tính chính xác là tiêu chi đầu tiên cần chú trọng của một hệ thong thuật ngữ vì một thuật ngữ biểu thị một khái niệm khoa học rõ ràng, không gây nhằm lẫn giữa khái niệm khoa học này với một khái niệm khoa học khác.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, tính chính xác ở đây được xét trên cả phương diện hình thức và ngữ nghĩa của một thuật ngữ. Về mặt hình thức, thuật ngữ phải có sự chặt chẽ và ngắn gọn. Về mặt ngữ nghĩa, tính chính xác của một thuật ngữ được tác giả Lê Khả Kế (1979) đã phân tích rõ: “7 tưởng nhất là thuật ngữ phản ánh được những đặc trưng cơ bản, nội dung cơ bản nhất của khái niệm” [10; tr. Như vậy, mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị đúng một khái niệm khoa học mà chúng gọi tên dưới hình thức ngắn gọn và chặt chẽ.
Nhằm tránh sự nhầm lẫn, khái niệm được thê hiện dưới một thuật ngữ phải phù hợp một cách tối đa nhất với số lượng đơn vị cầu tạo một thuật ngữ. Tỉnh hệ thong là tiêu chuan cần thiết tiếp theo được đưa ra. Hệ thống khái niệm của một ngành khoa học hay một lĩnh vực chuyên môn bất ky đều phải được thé hiện dưới hình thức một hệ thống thuật ngữ. Trong hệ thong đó, mỗi thuật ngữ đều đóng vai trò là một yếu tố hình thành nên một hệ thống thuật ngữ và chiếm một vị trí nhất định trong hệ thống đó.
Tác giả Lưu Vân lăng đã bàn về tính hệ thống của thuật ngữ như sau: “Các khái 19 niệm được tổ chức thành hệ thống, có tang, có lớp, có bậc han hoi, có khái niệm hạt nhân làm trung tâm tập hợp các khai niệm thành một trường khải niệm, thành từng nhóm, từng cụm. Mỗi trường khái niệm có thể là một hệ thống con. Mỗi hệ thống khái niệm có một khải niệm hạt nhân ” [13; tr. Như vậy, một hệ thống thuật ngữ luôn mang tính hệ thống.
Trong một hệ thống thuật ngữ lại có những hệ thống nhỏ, trong một hệ thống nhỏ sẽ lại chia thành các hệ thống nhỏ hơn nữa. Tính ngắn gon gan liền với tính chính xác và tính hệ thống của thuật ngữ. Theo Đỗ Hữu Châu, tính ngắn gọn được xem như mặt hình thức của tính chính xác. Về mặt hình thức, thuật ngữ phải ngắn gọn và chặt chẽ.
Dé đảm bảo được tính chính xác thì một thuật ngữ phải không có sự dư thừa về số lượng của yếu tố cấu tạo thuật ngữ. Bên cạnh đó, do mang tính chất định danh nên thuật ngữ phải ngắn gọn, thuật ngữ càng ngắn gọn thì mức độ truyền tải khái niệm càng nhanh và rõ ràng. Những thuật ngữ dài và dư thừa yếu tổ cau tạo thì sẽ dai dong, lỏng lẻo và giảm độ chính xác.