Tổng quan nghiên cứu
Thành ngữ là một bộ phận tinh hoa trong kho tàng từ vựng của mọi ngôn ngữ, phản ánh sinh động tư duy tri nhận, kinh nghiệm sống và bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Trong bức tranh ngôn ngữ học đối chiếu, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật Bản (mã số 60.09) của học viên Hồ Thị Hoài Nam, được thực hiện năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Minh Thủy tại Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giải quyết thấu đáo vấn đề ngữ nghĩa và cấu trúc của các thành ngữ có chứa từ chỉ con số trong tiếng Nhật khi đặt trong tương quan so sánh với tiếng Việt.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế rằng số từ khi tham gia cấu tạo quán dụng ngữ thường thoát ly khỏi giá trị số học biểu thị số lượng thực tế để chuyển hóa thành các biểu trưng văn hóa, tâm lý và tri nhận trừu tượng. Sự thiếu hụt các công trình khảo cứu đối chiếu hệ thống giữa tiếng Nhật và tiếng Việt trước đó khiến người học và dịch giả gặp tỷ lệ lỗi ngữ dụng và hiểu sai nghĩa bóng lên đến hơn 40%. Mục tiêu cụ thể của luận văn là thu thập, phân loại, bóc tách cấu trúc cú pháp của 199 quán dụng ngữ tiếng Nhật và 111 thành ngữ tiếng Việt chứa số từ, từ đó làm sáng tỏ sự tương đồng và dị biệt về ý nghĩa biểu trưng văn hóa giữa hai quốc gia.
Nghiên cứu có giá trị thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống dẫn liệu xác thực, nâng cao 35% độ chính xác cho công tác dịch thuật chuyên ngành và tối ưu hóa phương pháp tiếp cận ngôn ngữ - văn hóa học trong giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được thiết lập dựa trên hệ thống cơ sở lý luận ngôn ngữ học hiện đại của cả Nhật Bản và Việt Nam. Về phía Nhật Bản, tác giả kế thừa lý thuyết quán dụng ngữ của các học giả tên tuổi như Miyaji Yutaka (1982), Masuoka Takashi và Takubo Yukinori (1992), Akimoto Miharu (2002), Momiyama Yosuke (1997) và công trình của Ngô Minh Thủy (2012). Về phía tiếng Việt, luận văn áp dụng khung lý thuyết thành ngữ của Hoàng Văn Hành (2008), Nguyễn Thiện Giáp (2008), Mai Ngọc Chừ (2013) và Nguyễn Lân (2014).
Khung lý thuyết của luận văn vận hành xoay quanh 4 khái niệm then chốt:
- Quán dụng ngữ (Kanyouku): Tổ hợp cố định gồm từ 2 từ trở lên, có tính cố định cao về mặt cấu trúc và ý nghĩa toàn thể mang tính phái sinh hoặc ẩn dụ, không thể suy ra từ phép cộng cơ học nghĩa của các từ cấu thành.
- Thành ngữ tiếng Việt: Đơn vị từ vựng tương đương cụm từ cố định, có tính biểu trưng và tính hình tượng sâu sắc.
- Ý nghĩa biểu trưng của số từ: Sự chuyển dịch từ nghĩa số thực sang nghĩa số lượng khái quát (ít, nhiều, toàn thể) hoặc các giá trị văn hóa cát tường, hung hiểm.
- Cấu trúc cú pháp thành ngữ: Phân loại theo từ tính gồm cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ kết hợp các trợ từ liên kết.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn ngữ liệu chuẩn mực gồm 199 quán dụng ngữ tiếng Nhật trích xuất từ "Reikai Kanyouku Jiten" (Inoue Muneo, 1992) cùng "Koji Kotowaza - Kanyouku Jiten" (Sanseido, 2010), và 111 thành ngữ tiếng Việt thu thập từ "Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam" (Nguyễn Lân, 2014) cùng "Thành ngữ học Tiếng Việt" (Hoàng Văn Hành, 2008).
Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn diện có chủ đích, quét toàn bộ các đơn vị thành ngữ có chứa số từ tự nhiên từ 1 đến 10, các số hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn và các con số đặc thù. Tác giả kết hợp ba phương pháp phân tích chủ đạo: phương pháp thống kê định lượng để lượng hóa tần suất xuất hiện, phương pháp phân tích ngữ nghĩa học để bóc tách các nét nghĩa phái sinh, và phương pháp so sánh đối chiếu liên ngôn ngữ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học của số liệu và xác định chính xác mối tương quan giữa hình thức ngôn ngữ và tư duy văn hóa dân tộc. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ và hoàn thành trong giai đoạn 2015-2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực chứng đã đưa ra những phát hiện định lượng và định tính quan trọng về kho tàng thành ngữ số từ của hai ngôn ngữ:
Thứ nhất, về phổ số từ xuất hiện, tiếng Nhật ghi nhận 19 con số khác nhau trong 199 quán dụng ngữ, bao gồm từ 1 đến 10, 18, 36, 48, 60, 75, 100, 800, 1.000 và 10.000. Tiếng Việt xuất hiện 16 con số trong 111 thành ngữ, gồm từ 1 đến 10, 21, 30, 36, 100, 1.000 và 10.000. Hai ngôn ngữ giao thoa ở 13 con số cơ bản. Số "1" (Nhất / Một) giữ vị trí độc tôn về tần suất ở cả hai ngôn ngữ: chiếm 122 lần xuất hiện trong tiếng Nhật (chiếm tỷ lệ 61,3%) và 49 lần xuất hiện trong tiếng Việt (chiếm tỷ lệ 44,1%).
Thứ hai, về cấu trúc ngữ pháp theo từ tính, tiếng Nhật có sự cân bằng giữa quán dụng ngữ danh từ với 99 ngữ liệu (chiếm 49,75%) và quán dụng ngữ động từ với 94 ngữ liệu (chiếm 47,24%), đi kèm 19 cấu trúc phủ định cố định dạng "nai" hoặc "zu". Trái lại, thành ngữ tiếng Việt chiếm ưu thế tuyệt đối ở dạng cụm danh từ cố định 4 âm tiết (chiếm hơn 85%), trong khi dạng động từ và tính từ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ.
Thứ ba, về số lượng số từ trong một đơn vị thành ngữ, tiếng Nhật có tới 170 quán dụng ngữ chỉ chứa duy nhất 1 số từ (chiếm 85,4%) và 29 quán dụng ngữ chứa 2 số từ (chiếm 14,6%). Ngược lại, tiếng Việt ưa chuộng cấu trúc sóng đôi với 83 thành ngữ chứa từ 2 số từ trở lên (chiếm 74,8%), thậm chí có cấu trúc chứa 3 con số như "Ba bảy hai mốt ngày" hay "Hai năm rõ mười".
Thứ tư, về phân loại trường nghĩa trong tiếng Nhật, 199 quán dụng ngữ phân bố vào 5 nhóm nghĩa chính:
- Trạng thái, mức độ, giá trị: 72 ngữ liệu (chiếm 36,2% với 42 tiểu nhóm nghĩa).
- Hành vi, động tác, hành động: 50 ngữ liệu (chiếm 25,1% với 34 tiểu nhóm nghĩa).
- Xã hội, văn hóa, đời sống: 34 ngữ liệu (chiếm 17,1% với 21 tiểu nhóm nghĩa).
- Cơ thể, tính cách, thái độ: 26 ngữ liệu (chiếm 13,1% với 20 tiểu nhóm nghĩa).
- Cảm giác, tình cảm: 17 ngữ liệu (chiếm 8,5% với 15 tiểu nhóm nghĩa).
Thảo luận kết quả
Sự thống trị của số "1" trong cả hai ngôn ngữ bắt nguồn từ quy luật nhận thức phổ quát của nhân loại: số 1 đại diện cho điểm khởi đầu, sự khởi nguyên, tính duy nhất hoặc đơn vị đo lường nhỏ nhất. Ví dụ, tiếng Nhật dùng "Ichi go ichi e" (Nhất kỳ nhất hội) để nhấn mạnh sự duy nhất của khoảnh khắc đời người, còn tiếng Việt dùng "Một vốn bốn lời" để chỉ sự sinh sôi.
Tuy nhiên, sự phân hóa về tần suất của các số khác phản ánh nét tâm lý tộc người sâu sắc. Người Nhật chuộng số 8 ("Bát" tượng trưng cho sự mở rộng phát đạt hình nan quạt, xuất hiện 9 lần) và sử dụng các con số phong tục đặc trưng như 18, 48, 75, 800 (như "Hito no uwasa mo nanajuugo nichi" - Tin đồn của người đời cũng chỉ 75 ngày). Trong khi đó, người Việt Nam ưa chuộng các cặp số lẻ sóng đôi như 3 - 7 (xuất hiện 12 lần với số 7, như "Ba chìm bảy nổi"), phản ánh tư duy nông nghiệp và triết lý âm dương biến dịch.
Dữ liệu đối sánh trong luận văn được trình bày khoa học qua các bảng thống kê tần suất, bảng phân loại cú pháp kết hợp biểu đồ cột phân bổ trường nghĩa, giúp minh họa trực quan sự đối lập giữa tính chất miêu tả hành động linh hoạt của tiếng Nhật và tính đối ngẫu nhịp điệu của tiếng Việt. Kết quả này bổ sung và phát triển thuyết phục cho các nghiên cứu trước đây của Ngô Minh Thủy (2012) và Hoàng Hữu Dũng cùng Đỗ Thị Hồng Nhung (2017).
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu đối chiếu, tác giả đưa ra 4 khuyến nghị mang tính ứng dụng thực tiễn cao:
Thứ nhất, tích hợp module chuyên đề "Thành ngữ số từ đối chiếu Nhật - Việt" vào chương trình đào tạo bậc Cử nhân và Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật Bản nhằm giảm thiểu 40% lỗi diễn đạt ngữ dụng của sinh viên trong giai đoạn 2024-2026, do các Khoa Tiếng Nhật tại các trường đại học ngoại ngữ chủ trì thực hiện.
Thứ hai, biên soạn cẩm nang tra cứu gồm 310 thành ngữ số từ đối chiếu song ngữ có chú giải ngữ cảnh văn hóa và ví dụ thực tế nhằm gia tăng 50% hiệu suất dịch thuật văn bản học thuật và thương mại trong vòng 12 tháng, do nhóm nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng phối hợp với các nhà xuất bản chuyên ngành đảm trách.
Thứ ba, chuẩn hóa hệ thống ngữ liệu đối chiếu thành ngữ số từ để tích hợp vào các thuật toán dịch máy và công cụ từ điển điện tử thông minh, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ dịch chính xác thành ngữ ẩn dụ từ 65% lên 88% trước năm 2026, do các chuyên gia xử lý ngôn ngữ tự nhiên phối hợp cùng các viện nghiên cứu ngôn ngữ triển khai.
Thứ tư, tổ chức định kỳ 02 hội thảo khoa học thường niên về phương pháp giảng dạy ngôn ngữ gắn liền với tư duy tri nhận văn hóa dành cho giảng viên tiếng Nhật toàn quốc từ năm 2025 trở đi, do Hội Ngôn ngữ học và Câu lạc bộ Giảng dạy Tiếng Nhật điều phối thực hiện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:
- Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Nhật Bản: Khai thác khung lý thuyết chuẩn mực và phương pháp phân tích đối chiếu liên ngôn ngữ để áp dụng vào đề tài luận văn, luận án hoặc xây dựng các công trình công bố quốc tế.
- Giảng viên và giáo viên giảng dạy tiếng Nhật: Sử dụng hệ thống phân loại 5 nhóm nghĩa với 132 tiểu nghĩa cụ thể làm tài liệu giảng dạy môn Ngữ nghĩa học, Ngữ dụng học và Văn hóa Nhật Bản cho sinh viên từ trình độ N3 đến N1.
- Biên dịch viên và phiên dịch viên tiếng Nhật: Nắm vững các cặp thành ngữ tương đương như "Nhất thạch nhị điểu" tương ứng với "Một công đôi việc" hay "Quân tử nhất ngôn", từ đó nâng cao 35% độ chuẩn xác và tự nhiên trong chuyển ngữ văn bản.
- Nhà nghiên cứu văn hóa học phương Đông: Tiếp cận nguồn tư liệu thực chứng phong phú để giải mã các biểu tượng số học, quan niệm cát hung và tâm thức dân gian của cộng đồng cư dân hai nước Nhật Bản - Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao số 1 lại chiếm tần suất xuất hiện cao nhất trong thành ngữ của cả hai ngôn ngữ? Số 1 chiếm 61,3% trong tiếng Nhật và 44,1% trong tiếng Việt vì đây là con số biểu thị điểm khởi đầu, tính duy nhất hoặc mức độ tối thiểu mang tính bước ngoặt. Ví dụ, tiếng Nhật có "Ichi no ichi ban" (Đầu tiên nhất), tiếng Việt có "Một mất mười ngờ".
Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ số từ tiếng Nhật và tiếng Việt khác nhau như thế nào? Quán dụng ngữ tiếng Nhật phân bổ đồng đều giữa danh từ (49,75%) và động từ (47,24%) có kèm trợ từ chức năng như "Me o sankaku ni suru". Ngược lại, tiếng Việt có trên 85% là cụm danh từ cố định 4 âm tiết đối xứng như "Chín người mười ý".
Những con số nào xuất hiện trong quán dụng ngữ tiếng Nhật nhưng không có trong tiếng Việt? Tiếng Nhật sở hữu các con số đặc thù gắn với phong tục tập quán bản địa như 18 ("Oni mo juhachi"), 48 ("Kuse mo shijuhachi"), 60 ("Rokujuu no tenarai"), 75 ("Hito no uwasa mo nanajuugo nichi") và 800 ("Uso happyaku").
Quán dụng ngữ tiếng Nhật chứa số từ được chia thành những nhóm nghĩa nào? Hệ thống 199 quán dụng ngữ tiếng Nhật được chia thành 5 nhóm: Trạng thái - mức độ (36,2% với 72 ngữ liệu), Hành vi - hành động (25,1%), Xã hội - đời sống (17,1%), Tính cách - thái độ (13,1%) và Cảm giác - tình cảm (8,5%).
Thành ngữ số từ tiếng Việt thể hiện tư duy văn hóa gì nổi bật so với tiếng Nhật? Tiếng Việt có tới 74,8% thành ngữ sử dụng từ 2 đến 3 số từ kết hợp theo cặp đối ngẫu sóng đôi như "Ba chìm bảy nổi", "Hai năm rõ mười", phản ánh lối tư duy cân xứng hài hòa và triết lý âm dương của nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và khảo sát toàn diện 199 quán dụng ngữ tiếng Nhật và 111 thành ngữ tiếng Việt chứa số từ, xác lập 13 số từ chung và chỉ ra các số từ văn hóa đặc thù của mỗi bên.
- Làm sáng tỏ sự khác biệt hình thái cú pháp: tiếng Nhật cân bằng giữa danh từ (49,75%) và động từ (47,24%), trong khi tiếng Việt vượt trội ở dạng cụm danh từ đối ngẫu 4 chữ (trên 85%).
- Phân lập hoàn chỉnh 5 trường nghĩa lớn với 132 tiểu nghĩa chi tiết của quán dụng ngữ tiếng Nhật, trong đó nhóm trạng thái, mức độ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 36,2%.
- Khẳng định số 1 giữ vai trò trung tâm tri nhận ở cả hai dân tộc, đồng thời phân tích rõ nét tư duy số lẻ sóng đôi của người Việt và tư duy số chẵn cát tường của người Nhật.
- Cung cấp cơ sở cứ liệu vững chắc cho nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, dịch thuật song ngữ và giảng dạy tiếng Nhật chuyên sâu.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hoàn thiện một công trình nghiên cứu thực chứng công phu, kết nối chặt chẽ giữa cấu trúc ngữ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc. Trong kế hoạch tiếp theo, cơ sở dữ liệu này sẽ được số hóa thành từ điển tra cứu chuyên ngành trong vòng 6 tháng tới và tích hợp vào chương trình đào tạo từ quý 2 năm 2026. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và giảng viên quan tâm hãy tải trọn bộ luận văn thạc sĩ để khai thác toàn diện nguồn ngữ liệu giá trị này!