Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số 62 22 01 04) của nghiên cứu sinh Vũ Thị Hương, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hữu Sơn và PGS. Nguyễn Thị Oanh, mang tiêu đề: Nghiên cứu so sánh Sưu thần ký (Trung Quốc) với một số truyện chí quái Việt Nam từ góc độ đặc trưng thể loại và ngôn ngữ Hán văn.

Văn bản luận án đặt vấn đề xuất phát từ thực tiễn di sản Hán Nôm Việt Nam có nhiều tác phẩm văn xuôi chữ Hán thuộc loại hình chí quái, truyền kỳ chịu ảnh hưởng từ các khuôn mẫu văn học khu vực Đông Á, cụ thể là Trung Quốc. Quá trình tiếp nhận này diễn ra theo quy luật tiếp thu, cách tân và bản địa hóa. Trong lịch sử văn học Trung Quốc, thể loại chí quái xuất hiện từ thời Ngụy - Tấn, đóng vai trò nền tảng cho sự ra đời của truyền kỳ đời Đường và thoại bản đời Tống, trong đó Sưu thần ký của Can Bảo (thế kỷ IV, thời Đông Tấn) là tác phẩm tiêu biểu mở đầu. Ở Việt Nam, các tác phẩm như Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục chịu ảnh hưởng của thể loại này nhưng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là trước đây chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh một cách toàn diện, có hệ thống giữa Sưu thần ký với hai tác phẩm chí quái tiêu biểu của Việt Nam trên cả hai bình diện: đặc trưng thể loại và đặc trưng ngôn ngữ Hán văn.

Mục tiêu khoa học của luận án được văn bản phân định thành hai nội dung cụ thể:

  1. So sánh về ảnh hưởng của thể loại như mô hình cấu trúc cốt truyện; hệ thống không gian, thời gian; yếu tố kỳ ảo (bao gồm hệ thống nhân vật kỳ ảo và hệ thống mô típ kỳ ảo) nhằm chỉ ra sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, từ đó làm rõ tính bản vị và giá trị văn hóa Việt.
  2. Miêu tả so sánh đặc trưng ngôn ngữ Hán văn về phương diện ngữ pháp theo các khái niệm ngữ pháp học tiếng Hán của thể loại chí quái từng nước. Làm sáng tỏ mối quan hệ ảnh hưởng về ngôn ngữ Hán văn, chỉ ra đặc trưng ngôn ngữ kể, tả của thể loại chí quái dẫn đến việc sử dụng chủ yếu hai kiểu câu là câu phán đoán và câu tồn tại, đồng thời chỉ ra hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu trong các tác phẩm khảo sát.

Đối tượng và phạm vi tư liệu của luận án tập trung vào ba tác phẩm:

  • Sưu thần ký (搜神記 - STK) của Can Bảo (干寶), bản 20 quyển thời Đông Tấn.
  • Việt điện u linh tập (越甸幽靈集 - VĐUL) do Lý Tế Xuyên (李濟川) biên soạn năm 1329 thời Lý - Trần.
  • Lĩnh Nam chích quái lục (嶺南摭怪錄 - LNCQ), tương truyền do Trần Thế Pháp (陳世法) biên soạn, Vũ Quỳnh (武瓊) và Kiều Phú (橋富) hiệu chỉnh, bổ sung thành Lĩnh Nam chích quái liệt truyện.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Văn bản luận án đã tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba khối tư liệu chính:

Tình hình nghiên cứu Sưu thần ký

Tại Trung Quốc, tác phẩm được nghiên cứu từ thời Tống qua nhận xét của Hồng Lịch trong Di kiên chí, đến đầu thế kỷ XX qua công trình Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn. Các công trình chuyên khảo tiêu biểu gồm Nghiên cứu tiểu thuyết chí quái Ngụy - Tấn Nam Bắc triều của Vương Quốc Lương và Nghiên cứu tiểu thuyết chí quái Lục triều của Chu Thứ Cát. Dẫn theo bài Tổng thuật nghiên cứu Sưu thần ký thế kỷ XX của Dương Thục Bằng, các công trình được phân thành hai giai đoạn (trước 1979 với 6 bài của Tôn Duy Tân, Phạm Ninh, Cát Triệu Quang; và sau 1979 với sự gia tăng gấp 9 lần về số lượng). Hướng nghiên cứu tập trung vào ba phương diện:

  • Cuộc đời và tư tưởng tác giả: Lý Kiếm Quốc (Can Bảo khảo), Cát Triệu Quang, Vương Tận Trung, Uông Thiệu Doanh, Lý Phùng, Chu Uyên Thanh.
  • Nghiên cứu văn bản: Uông Thiệu Doanh khảo cứu 464 điều và 34 điều dật văn; Chu Tuấn Huân khảo sát bản 12 quyển; xác định ba hệ bản (bản 20 quyển, bản 8 quyển, bản Đôn Hoàng).
  • Nghiên cứu nội dung và nghệ thuật: Lưu Diệp Thu, Hầu Trung Nghĩa, Thạch Xướng Du, Dương Nghĩa (tiếp cận tự sự học và văn hóa học), Vương Bình (góc độ Đạo giáo), Lý Kiếm Phùng (dân tục học), Mã Ngọc (nhân loại học).

Tại Việt Nam, Sưu thần ký được đề cập qua giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc do Lê Huy Tiêu chủ biên (1997), Từ điển văn học (Bộ mới) của Phạm Tú Châu (2004), bản dịch chọn lọc 72 truyện của Lê Văn Đình (2004), luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Hương (2006) về thể tài và ngôn ngữ Hán văn, và bài nghiên cứu so sánh mô típ trừ tà ma của Nguyễn Thị Oanh (2013).

Tình hình nghiên cứu Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước theo bốn bình diện:

  1. Thể loại văn học: Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục (1777) coi VĐUL là tác phẩm lịch sử; Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí (thế kỷ XIX) và Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) xếp vào loại Truyện ký; Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử (1942) và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1958) xếp vào Văn tiểu thuyết (đoản thiên tiểu thuyết có tính cách thần quái); Trần Thanh Mại (1961) coi là truyện ký; nhóm biên soạn Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san (Trần Khánh Hạo, Vương Tam Khánh, Trịnh A Tài, Trần Nghĩa, 1987) và Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tập thành (Tôn Tốn, Trịnh Khắc Mạnh, Trần Ích Nguyên, 2010) xếp vào Truyền thuyết thần thoại; Trần Văn Giáp (1971/1990) xếp vào Văn hóa dân gian; Trần Nghĩa trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (1997) phân loại là Tiểu thuyết chí quái.
  2. Mối quan hệ với văn học dân gian: Nguyễn Huệ Chi (1977), Nguyễn Đình Chú (1980), Nguyễn Đăng Na (1999), Trần Thị An (2000), Kiều Thu Hoạch (2007), Đào Phương Chi (2007), Vũ Thanh (2007, 2014) đều khẳng định VĐUL và LNCQ là quá trình văn bản hóa truyền thuyết và truyện dân gian.
  3. Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc: Bùi Duy Tân (1976, 1992), B. Riftin (1999), Nguyễn Huệ Chi (1999), Trần Nghĩa (2005, 2007), Trần Đình Sử (2005), Emanuel Pastreich (2005) nghiên cứu sự tiếp nhận, chuyển thể, cải biên và khuynh hướng bản địa hóa.
  4. Nghiên cứu so sánh trực tiếp: Toàn Huệ Khanh (Hàn Quốc), Trần Ích Nguyên (Đài Loan), và luận văn thạc sĩ của Lâm Thúy Bình (Đài Loan) so sánh Sưu thần ký với Lĩnh Nam chích quái.

Vị trí của luận án: Luận án khắc phục hạn chế của các công trình đi trước khi tiến hành so sánh đối chiếu song song có hệ thống giữa một tác phẩm kinh điển của chí quái Trung Quốc (Sưu thần ký) với hai tác phẩm khởi đầu văn xuôi tự sự Việt Nam (Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục) trên cả phương diện thi pháp thể loại và phương diện ngôn ngữ học Hán văn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Lý thuyết thể loại văn học: Dựa trên quan niệm về thể, văn thể trong lý luận văn học truyền thống và hiện đại; xem thể loại là sự thống nhất giữa nội dung tư tưởng và dạng thức tổ chức văn bản nghệ thuật mang tính tương đối ổn định và biến đổi theo lịch sử.
  • Lý thuyết văn học so sánh: Tiếp cận các mối quan hệ giao lưu, tiếp xúc, vay mượn và tiếp biến giữa các nền văn học trong khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á; phân biệt tương đồng lịch sử và tương đồng phi lịch sử để làm nổi bật tính bản vị dân tộc của văn học Việt Nam.
  • Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Hán: Khung lý thuyết phân biệt văn ngôn cổ điển và hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu (cận đại Hán ngữ), hệ thống phân loại cú pháp về câu phán đoán và câu tồn tại, cùng đặc điểm của hệ thống từ loại và hư từ tiếng Hán.

Phương pháp nghiên cứu

Văn bản luận án sử dụng kết hợp các phương pháp và thao tác nghiên cứu sau:

  • Phương pháp nghiên cứu thể loại văn học: Áp dụng để phân tích các yếu tố cấu thành thể tài như mô hình cốt truyện, kết cấu không gian - thời gian, hệ thống nhân vật và mô típ nghệ thuật.
  • Phương pháp nghiên cứu văn học so sánh (giữ vai trò chủ đạo): Dùng để đối chiếu các điểm tương đồng, dị biệt và sự khúc xạ ảnh hưởng giữa tác phẩm văn học Trung Quốc và tác phẩm văn học Việt Nam.
  • Phương pháp quy nạp: Rút ra các kết luận có tính quy luật về đặc trưng thể loại và ngôn ngữ Hán văn từ các dẫn chứng khảo sát.
  • Thao tác thống kê, định lượng: Được sử dụng xuyên suốt toàn bộ văn bản để thu thập cứ liệu về số lượng truyện, nhân vật, mô típ và các kiểu cấu trúc ngữ pháp trong các tác phẩm.
  • Thao tác ngôn ngữ học miêu tả: Miêu tả cấu trúc ngữ pháp ở cấp độ từ pháp và cú pháp trong các câu văn trích lục từ văn bản Hán văn.
Tiêu chí Sưu thần ký (Trung Quốc) Việt điện u linh tập (Việt Nam) Lĩnh Nam chích quái lục (Việt Nam)
Tác giả / Biên soạn Can Bảo (thời Đông Tấn) Lý Tế Xuyên (thời Lý - Trần) Trần Thế Pháp (Vũ Quỳnh, Kiều Phú)
Quy mô văn bản 20 quyển (bản còn lại) 27 truyện (bản sơ khởi) 22 - 23 truyện (bản nguyên sơ)
Tính chất thể loại Tiểu thuyết chí quái Truyện chí quái / Văn bản chức năng (tự điển) Truyện chí quái / Truyện cổ tích, truyền thuyết
Nền tảng tư liệu Thần thoại, dị văn, nhai đàm hạng ngữ Thần tích, sử ký, truyền thuyết dân gian Truyền thuyết, thần thoại, dã sử dân gian
Đặc trưng ngôn ngữ Kể tả, câu tồn tại, bạch thoại sớm Kể tả, ghi chép hành trạng, câu tồn tại Kể tả tự sự, câu phán đoán, câu tồn tại

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu về Sưu thần ký tại Trung Quốc và Việt Nam, cũng như tình hình nghiên cứu Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục qua các thời kỳ lịch sử. Luận án phân tích sự khác nhau trong cách định danh thể loại giữa các nhà nghiên cứu: trong khi giới học thuật Trung Quốc thống nhất xếp Sưu thần ký vào loại hình tiểu thuyết chí quái, thì ở Việt Nam hai tác phẩm Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục từng được định vị dưới nhiều tên gọi khác nhau như tác phẩm lịch sử, truyện ký, văn tiểu thuyết, truyền thuyết thần thoại, văn hóa dân gian hay thần tích chức năng nghi lễ. Từ việc tổng kết những khoảng trống trong việc nghiên cứu so sánh liên văn bản và ngôn ngữ, tác giả xác lập hướng tiếp cận chuyên biệt từ góc độ đặc trưng thể loại và ngôn ngữ Hán văn.

Chương 2: Thể loại chí quái trong văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam

Chương 2 giải quyết vấn đề lý luận về thể loại và bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành chí quái ở hai quốc gia:

  • Về quan niệm thuật ngữ: Tác giả phân tích nguồn gốc từ "tiểu thuyết" trong Trang Tử (thiên Ngoại vật), Tân luận của Hoàn Đàm, Hán thư - Nghệ văn chí của Ban Cố và kiến giải của Lỗ Tấn, chỉ ra rằng ở Trung Quốc cổ đại "tiểu thuyết" ban đầu là danh từ chỉ những lời nói vụn vặt, mạt hạng ngoài đường xóm. Ngược lại, ở Việt Nam, thuật ngữ "truyện" được sử dụng xuyên suốt để chỉ loại hình tự sự (cả văn xuôi và văn vần), mang tính linh thiêng, cao nhã hoặc tự sự dân gian, trước khi khái niệm tiểu thuyết phương Tây du nhập vào cuối thế kỷ XIX. Do đó, luận án xác định Sưu thần ký mang tư duy tiểu thuyết chí quái, còn Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục mang tư duy truyện chí quái.
  • Về chí quái Trung Quốc: Trình bày bối cảnh xã hội Ngụy - Tấn phân liệt, chiến tranh bè phái, sự suy vi của Nho giáo dẫn đến phong khí thanh đàm, sùng bái Lão - Trang, sự thâm nhập của Phật giáo Tiểu thừa và sự phát triển của Đạo giáo phù chú phương thuật. Chí quái hình thành từ sự biến dị của thần thoại, truyền thuyết và được chia thành ba nhóm nội dung: địa lý bác vật, tạp sử ngoài chính sử, và ghi chép quỷ thần điềm triệu.
  • Về chí quái Việt Nam: Luận án phân tích bối cảnh độc lập tự chủ thời Lý - Trần, nhu cầu khẳng định lịch sử, cội nguồn văn hóa và ý thức tự tôn dân tộc dẫn đến việc sưu tầm, văn bản hóa truyện kể dân gian và thần tích thành các tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán đầu tiên.

Chương 3: Nghiên cứu so sánh đặc trưng thể loại chí quái trong Sưu thần ký với Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái

Chương 3 đi sâu so sánh cấu trúc nghệ thuật của các tác phẩm dựa trên các tiêu chí thi pháp:

  • Mô hình cấu trúc cốt truyện: Khảo sát kết cấu cốt truyện của Sưu thần ký (thường ngắn gọn, ghi chép đơn tuyến một sự việc kỳ dị) so với kết cấu của Việt điện u linh tập (cấu trúc thần tích chức năng kết hợp trần thuật lịch sử và sắc phong) và Lĩnh Nam chích quái lục (cốt truyện tự sự hoàn chỉnh có mở đầu, diễn biến phức hợp và kết thúc rõ ràng).
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Phân tích không gian kỳ ảo, không gian cõi u linh giao hòa với cõi trần, thời gian lịch sử cụ thể kết hợp thời gian thần thoại hoang sơ trong văn bản của hai nước.
  • Yếu tố kỳ ảo: Chỉ ra tính chất kỳ ảo thô phác, thực dụng nhằm chứng minh "đạo thần minh không dối trá" trong Sưu thần ký, đối sánh với yếu tố kỳ ảo mang tính linh thiêng, bảo trợ quốc gia và giải thích phong tục tập quán trong văn xuôi Việt Nam.
  • Hệ thống nhân vật kỳ ảo: Phân loại và so sánh hệ thống nhân vật thần linh (thiên thần, địa thần, nhân thần), ma quỷ, dị nhân, thảo mộc biến hình. Nhân vật trong tác phẩm Việt Nam gắn liền với danh tướng, anh hùng có công dựng nước và giữ nước.
  • Hệ thống mô típ kỳ ảo: Thống kê và so sánh các mô típ phổ biến như mô típ biến hình, mô típ báo ứng, mô típ giấc mơ gặp thần, mô típ giao cảm giữa người và thần linh ma quỷ.

Chương 4: Nghiên cứu so sánh đặc trưng ngôn ngữ Hán văn trong Sưu thần ký với Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái

Chương 4 nghiên cứu văn bản dưới góc độ ngôn ngữ học Hán văn:

  • Cú pháp câu trong thể loại chí quái: Do chức năng chủ đạo là kể và tả sự vật, sự việc kỳ dị, thể loại chí quái sử dụng tần suất cao hai loại câu đặc thù là câu tồn tại (biểu thị sự xuất hiện, tồn tại hoặc biến mất của sự vật/hiện tượng trong không gian, thời gian) và câu phán đoán (khẳng định bản chất hoặc danh tính của nhân vật, sự vật kỳ dị).
  • Hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu: Phân tích sự thâm nhập của các yếu tố ngôn ngữ khẩu ngữ, bạch thoại đời Hán - Ngụy vào văn ngôn trong Sưu thần ký do tính chất ghi chép chuyện truyền miệng dân gian. Khảo sát nguyên nhân và biểu hiện của các yếu tố bạch thoại sớm này trong văn bản Hán văn của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục ở các phương diện từ pháp, hệ thống đại từ, phó từ và hư từ trần thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ vào phần Mở đầu và nội dung văn bản, luận án xác định các kết quả và đóng góp mới gồm:

  1. Về mặt học thuật: Đây là công trình đầu tiên tiến hành nghiên cứu so sánh một cách toàn diện, có hệ thống giữa tác phẩm chí quái tiêu biểu của Trung Quốc là Sưu thần ký với hai tác phẩm khởi đầu nền văn xuôi tự sự Việt Nam là Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.
  2. Về mặt thể loại: Luận án chỉ ra mối quan hệ ảnh hưởng tiếp xúc giữa thể loại chí quái Lục triều Trung Quốc đối với văn xuôi tự sự thời Lý - Trần ở Việt Nam. Đồng thời, công trình phân định rõ sự khác biệt giữa tư duy "tiểu thuyết chí quái" của Trung Quốc (thiên về ghi chép chuyện vụn vặt, kỳ ảo giải khuây) và tư duy "truyện chí quái" của Việt Nam (gắn liền với ghi chép sự thật lịch sử, tôn vinh anh hùng dân tộc và khẳng định ý thức tự chủ).
  3. Về mặt ngôn ngữ Hán văn: Luận án phát hiện và chứng minh đặc trưng cú pháp nổi bật của văn bản chí quái là việc sử dụng chủ đạo câu tồn tại và câu phán đoán phục vụ chức năng tự sự, miêu tả. Đồng thời, công trình chỉ ra và miêu tả cụ thể hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu xuất hiện trong các tác phẩm chí quái của cả hai quốc gia.
  4. Về mặt tư tưởng văn hóa: Khẳng định sự sáng tạo chủ động của các tác giả Việt Nam trung đại trong việc tiếp thu khuôn mẫu thể loại ngoại lai để chuyển tải nội dung văn hóa, lịch sử và tâm thức bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án tự xác định một số giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát văn bản giới hạn ở ba tác phẩm tiêu biểu (Sưu thần ký, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục), chưa bao quát toàn bộ các tác phẩm chí quái, truyền kỳ khác của văn học trung đại hai nước như Sưu thần hậu ký, Liệt dị truyện, Thánh Tông di thảo, hay Truyền kỳ mạn lục.
  • Nghiên cứu ngôn ngữ Hán văn tập trung chủ yếu vào bình diện ngữ pháp (câu tồn tại, câu phán đoán, hiện tượng bạch thoại thời kỳ đầu), chưa mở rộng toàn diện sang các bình diện từ vựng học, ngữ nghĩa học lịch sử hoặc phong cách học văn bản trên diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng so sánh thể loại chí quái với các thể loại phái sinh giai đoạn sau như truyền kỳ và thoại bản trong phạm vi khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á (bao gồm thêm Triều Tiên và Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu và cơ sở khoa học hữu ích cho các đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Hán Nôm, Văn học Việt Nam trung đại, Văn học Trung Quốc và Ngôn ngữ học Hán văn.
  • Giảng viên đại học sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu trong giảng dạy các học phần Văn học so sánh, Lịch sử văn học trung đại Việt Nam, Thi pháp thể loại và Ngữ pháp Hán văn cổ trung đại.
  • Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và phân tích đối chiếu ngôn ngữ Hán văn (Chương 4) có giá trị tư liệu cao trong việc nghiên cứu văn bản học và lịch sử ngữ pháp tiếng Hán trong các tác phẩm Hán văn Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án phân biệt "tiểu thuyết chí quái" ở Trung Quốc và "truyện chí quái" ở Việt Nam?

Văn bản luận án giải thích rằng ở Trung Quốc, khái niệm "tiểu thuyết" xuất hiện từ sớm trong sách Trang Tử, Tân luận và Hán thư, ban đầu chỉ những chuyện vụn vặt ngoài đường ngõ, mang tính hư cấu giải khuây. Trong khi đó, ở Việt Nam, khái niệm "truyện" được dùng phổ biến để chỉ các tác phẩm tự sự bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang nội dung trang nghiêm, linh thiêng, ghi chép hành trạng thần linh và nhân vật lịch sử được cộng đồng tôn thờ.

2. Hai kiểu câu nào được xác định là đặc trưng ngữ pháp của thể loại chí quái?

Theo luận án, do chí quái là thể loại có chức năng chủ yếu là kể và tả lại các sự việc, hiện tượng kỳ dị hoặc xác định thân thế nhân vật thần quái, nên hai loại câu được sử dụng nhiều nhất là câu tồn tại (xuất hiện, biến mất, hiện diện của sự vật) và câu phán đoán (khẳng định bản chất, danh xưng, lai lịch).

3. Hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu trong tác phẩm chí quái là gì?

Đó là hiện tượng văn bản Hán văn sử dụng các yếu tố từ ngữ, hư từ, đại từ và cấu trúc ngữ pháp khẩu ngữ đời thường (khác với văn ngôn cổ điển thuần túy) do tác phẩm bắt nguồn từ quá trình ghi chép lại các câu chuyện kể truyền miệng trong dân gian.

4. Bản Sưu thần ký nào được chọn làm văn bản khảo sát chính trong luận án?

Luận án lựa chọn bản Sưu thần ký 20 quyển của Can Bảo thời Đông Tấn, vì qua các khảo cứu văn bản học của các học giả (như Uông Thiệu Doanh, Lý Kiếm Quốc), đây là bản hoàn chỉnh và gần với diện mạo nguyên tác của tác giả nhất so với bản 8 quyển hay bản Đôn Hoàng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Hương là công trình nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa Sưu thần ký (Trung Quốc) với Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục (Việt Nam) trên hai bình diện đặc trưng thể loại và đặc trưng ngôn ngữ Hán văn. Tác phẩm đã phân tích rõ quá trình tiếp thu mô hình thi pháp chí quái ngoại lai kết hợp với quá trình bản địa hóa nhằm phản ánh lịch sử và văn hóa dân tộc của các tác giả Việt Nam thời Lý - Trần. Đồng thời, luận án làm sáng tỏ các đặc điểm ngữ pháp tiêu biểu của thể loại chí quái thông qua cấu trúc câu tồn tại, câu phán đoán và hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu trong các văn bản Hán văn khảo sát.