đặt vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của bài luận văn. Trình bày các cơ sở lý thuyết của bài luận văn và tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các vấn đề về phương pháp để thực hiện nghiên cứu, nguồn dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu. Phân tích So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giữa các hộ nông dân tham gia dự án với các hộ nông dân sản xuất tự do ở 3 xã Thạnh Hưng, Hòa Hưng, Ngọc Chúc của huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bằng phương pháp kiểm định t-test và phương pháp PSM. Kết luận và hàm ý chính sách. Trình bày những kết quả đạt được của đề tài, gợi ý các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa khi thực hiện dự án, chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2. Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân: Theo Bài giảng Kinh tế nông hộ đưa ra khái niệm về hộ như sau: Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất đến tiêu dùng và các hoạt động khác. Hộ là những người có chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm để nuôi sống bản thân và cộng đồng.
Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm. Nhìn chung, quan niệm về hộ có những đặc điểm sau: chung hay không cùng chung huyết tộc, cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng chung nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng sản xuất chung. Quan niệm của Frank Ellis (1988) về hộ nông dân có thể tóm tắt như sau: "Hộ nông dân là những hộ gia đình làm nông nghiệp (mặc dù các thành viên trong gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt động phi nông nghiệp) có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường" Theo Bài giảng kinh tế hộ và trang trại đưa ra khái niệm về kinh tế hộ nông dân: Đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ nhất, đất đai.
Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai. Thứ hai, lao động. Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân. Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản.
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng. Người ta cho rằng: “người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận. Từ những đặc trưng trên có thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao. Tóm lại, trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh: Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình.
Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc. Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau. Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế. Hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả môi trường Hiệu quả kinh tế của một dự án được xác định trên cơ sở lợi ích của nền kinh tế quốc dân.
Vì vậy, cơ sở để xác định hiệu quả kinh tế là các mục tiêu của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nền kinh tế. Thuật ngữ “kinh tế” ở đây là viết tắt của ba từ “kinh tế - xã hội- môi trường” (tam giác hiệu quả kinh tế quốc dân) là những lợi ích hoặc những thiệt hại của dự án đóng góp hoặc gây ra cho nền kinh tế quốc dân” (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2007, trang 211). Dự án được xem là mang lại “hiệu quả kinh tế” khi nó đạt được các mục tiêu sau: Về mặt kinh tế: + Nâng cao mức sống cho người dân: được thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP-Gross Domestic Product), sự gia tăng tổng sản lượng nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; mức gia tăng thu nhập; tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế + Góp phần gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước + Góp phần làm gia tăng số lao động có việc làm, chuyển đổi cơ cấu lao động, nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ và tay nghề cao. Về mặt xã hội: + Phân phối thu nhập và công bằng: thể hiện qua sự đóng góp dự án đối với việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, vùng hải đảo, xa xôi… và đẩy mạnh công bằng xã hội.
+ Cải thiện điều kiện vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo. + Cải thiện điều kiện sức khỏe cho người dân: giảm tỷ lệ số người mắc bệnh, giảm tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em, giảm tỷ lệ tử vong ở người lớn và trẻ nhỏ. + Cải thiện môi trường làm việc, phát triển giáo dục nâng cao tỷ lệ giáo dục phổ cập, tăng tỷ lệ số học sinh đến trường. + Tạo ra công ăn việc làm cho người dân địa phương.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 + Nâng cao sự gắn kết trong cộng đồng địa phương; lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương. + Phải góp phần bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc. Về mặt môi trường: Việc thực hiện một dự án thường có những tác động nhất định đến môi trường sinh thái. Các tác động này có thể là tích cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực.
Tác động tích cực có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt cho dân cư địa phương…Các tác động tiêu cực bao gồm việc ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và súc vật trong khu vực. Vì vậy, trong phân tích dự án các tác động về môi trường đặc biệt là tác động tiêu cực phải được quan tâm thỏa đáng Dự án mang lại hiệu quả môi trường khi dự án đó không làm suy thoái, ô nhiễm môi trường hay làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, dự án đó có thể mang lại những lợi ích cho môi trường như: góp phần ngăn chặn ô nhiễm khôi phục, cải tạo chất lượng môi trường sao cho tốt hơn so với trước. LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT 2.
Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất Theo David L. Debertin (2012), sản xuất nông nghiệp là có liên quan chủ yếu với các lý thuyết kinh tế vì nó liên quan đến việc sản xuất các mặt hàng nông nghiệp. Một số mối quan tâm lớn về kinh tế sản xuất nông nghiệp bao gồm những điều sau đây: Mục tiêu và mục đích của người quản lý trang trại. Nhà kinh tế nông nghiệp thường cho rằng mục tiêu của bất kỳ nhà quản lý trang trại là lợi nhuận tối đa.
Tuy nhiên, nông dân cá thể có những mục tiêu khác ví như quan tâm quyền sở hữu của trang trại lớn nhất trong vùng, quan tâm việc sở hữu các máy móc thiết bị tốt nhất, hay quan tâm trong việc giảm thiểu số nợ của mình. Tuy nhiên, hầu hết các mô hình kinh tế được sử dụng để đại diện cho hành vi của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nhà quản lý trang trại cho rằng người quản lý trang trại quan tâm đến lợi nhuận tối đa, tức là tối đa hóa doanh thu hạn chế tối thiểu các chi phí. Lựa chọn sản phẩm sản xuất. Một người quản lý trang trại phải đối mặt với việc lựa chọn sản xuất sản phẩm gì với nguồn lực sẵn có như: đất đai, lao động, máy móc, thiết bị.
Phân bổ nguồn lực. Khi đã quyết định được sản phẩm cần sản xuất, người nông dân phải phân bổ phù hợp nguồn lực sẵn có bởi vì nguồn lực có giới hạn. Giả định về rủi ro và sự không chắc chắn. Mô hình kinh tế sản xuất thường xuyên giả định rằng người quản lý biết một cách chắc chắn lợi nhuận thu đượcsau khi bán sản phẩm.
Tuy nhiêngiả định này không chính xác. Bởi vì trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vàothời tiết,dịch bệnh. Mặc dù nông dân có thể hoàn toàn biết được chi phí các đầu vào như xăng dầu, phân bón, và hạt giống. Tuy nhiên họ hầu như không bao giờ biết được giá sản phẩm được bán ra.
Giá không chắc chắn gần như cho bất kỳ loại hàng hóa nông nghiệp. Bởi vì phải mất nhiều thời gian để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp, đồng thời nông dân còn phải đối mặt với giá cả cạnh tranh của thị trường.