Chương 1 Một số khái niệm lý thuyết về dạy tiếng và lịch sử vấn đề Chương 2 Tình hình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Trung cho người nước ngoài Chương 3 Tình hình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Chương 4 So sánh việc đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng của hai nước 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LÝ THUYẾT VỀ DẠY TIẾNG VÀ LỊCH SỬ VẤN ĐỂ 1. Dạy tiếng là gì Dạy tiếng (language teaching) là một phương pháp hoạt động dạy học có mục đích, có kế hoạch cụ thể, là một bộ phận quan trọng của giáo dục. Dạy tiếng được coi là một hoạt động dạy học nhằm trau dồi và nâng cao năng lực ngôn ngữ của người được giáo dục về các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Mục tiêu chính của việc dạy tiếng là đào tạo và nâng cao năng lực ngôn ngữ của người được giáo dục.
Khái niệm "năng lực ngôn ngữ" được hiểu là năng lực sử dụng ngôn ngữ để nghe, nói, đọc và viết, hoặc khả năng sử dụng tiếng nói, lời văn để giao tiếp. Về khái niệm đào tạo giáo viên dạy tiếng Một đặc trưng của nghề dạy tiếng là chúng ta phải tiếp xúc với hàng loạt đối tượng người học khác nhau, với những điều kiện học, mục đích, lứa tuổi, quốc tịch, tiếng mẹ đẻ. Nói cách khác, chúng ta phải chú ý đến từng cá nhân một với những bối cảnh khác nhau. Như vậy, về khía cạnh lý thuyết, chúng ta phải chú ý đến toàn bộ đối tượng học nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến từng cá nhân.
Thực tế là trên thế giới đã có hẳn ngành dạy tiếng (language teaching) thuộc ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) và rất nhiều 6 nhà ngôn ngữ học ứng dụng đã xây dựng lý thuyết về giảng dạy và học tập ngôn ngữ thứ hai. Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng của nhóm Richard, J. nhà xuất bản Longman cho rằng: “Đào tạo giáo viên (teacher education) là một lĩnh vực nghiên cứu đề cập tới sự chuẩn bị và phát triển nghề nghiệp của các giáo viên [41, tr. Trong lĩnh vực teachear education, thỉnh thoảng người ta phân biệt hai khái niệm: teachear training development - phát triển giáo viên và teacher training - đào tạo giáo viên.
Teacher training đề cập tới những kỹ năng giảng dạy cơ bản trong chương trình tiền giảng dạy (preservice education), đặc biệt là đối với những giáo viên mới bước vào nghề (novice teachers). Những kỹ năng này bao gồm những bình diện của việc giảng dạy như việc chuẩn bị kế hoạch bài giảng, việc quản lý lớp học, việc dạy 4 kỹ năng (nghe, nói đọc, viết), các kỹ thuật giới thiệu và rèn luyện các đơn vị ngữ liệu, kỹ thuật chữa lỗi. Teacher development chú ý đến giai đoạn sau khi đã qua giai đoạn đào tạo đầu tiên và đề cập tới sự phát triển nghề nghiệp của các giáo viên, đặc biệt là các chương trình tập huấn dành cho các giáo viên đang giảng dạy (Inservice Education)”. Chương trình này tập trung vào việc tự đánh giá của giáo viên, việc các giáo viên khảo sát về những bình diện khác nhau của tiến trình giảng dạy và việc kiểm tra cách tiếp cận đối với tiến trình giảng dạy của giáo viên.
Chương trình Inservice programmes dành cho các giáo viên dạy tiếng cũng có thể được gọi là “Continuing 7 Education for Language Teachers (CELT) - Đào tạo tiếp tục đối với giáo viên dạy tiếng. Thế nào là ngôn ngữ thứ 2 Trước khi thảo luận về tên của các môn học, đầu tiên chúng ta phải tìm ra một vài khái niệm cơ bản về ngôn ngữ liên quan đến dạy tiếng. Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai. Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai là hai khái niệm được phân biệt theo thứ tự mà con người tiếp thu ngôn ngữ, đồng thời chúng cũng là một cặp thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất trong lý thuyết giảng dạy ngôn ngữ.
Ngôn ngữ thứ nhất/ngôn ngữ đầu tiên (trong một mức độ nào đó là tiếng mẹ đẻ) chính là ngôn ngữ mà một người tiếp xúc và tiếp thu lần đầu tiên sau khi sinh ra; ngôn ngữ thứ hai đề cập đến một ngôn ngữ khác mà mọi người học và sử dụng sau khi có được ngôn ngữ đầu tiên. Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai được phân biệt hoàn toàn ngay từ khi người học học ngôn ngữ, ngôn ngữ thứ hai không giống với ngôn ngữ thứ nhất hoặc ngôn ngữ chính thức được pháp luật quy định ở một số quốc gia đa ngôn ngữ. Tóm lại, "ngôn ngữ thứ hai" có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng của "ngôn ngữ thứ hai" đề cập đến bất kỳ ngôn ngữ nào được học và sử dụng sau khi có được ngôn ngữ đầu tiên, bao gồm cả ngoại ngữ; nghĩa hẹp của "ngôn ngữ thứ hai" được lý giải bằng hai cách: một là đề cập đến ngôn ngữ mẹ đẻ khác với ngôn ngữ đầu tiên hoặc ngôn ngữ của các dân tộc khác trong nước không bao gồm ngoại ngữ; còn lại là đề cập đến ngôn ngữ đích được học trong môi trường sử dụng ngôn ngữ đó, bao gồm một số ngoại ngữ.
Thế nào là dạy ngôn ngữ thứ hai Dạy tiếng có hai hình thức: dạy ngôn ngữ thứ nhất hoặc dạy tiếng 8 mẹ đẻ (first language teaching/mother tongue teaching) và dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teaching). Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào việc dạy ngôn ngữ thứ hai. Dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teaching) là dạy cho người được giáo dục nắm vững kiến thức và cách sử dụng ngôn ngữ thứ hai trên cơ sở đối tượng đã tiếp nhận giáo dục hoặc đã có nền tảng ngôn ngữ mẹ đẻ. Đây là cách dạy loại ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ.
Cũng được gọi là dạy ngôn ngữ thứ hai. Mục tiêu của dạy ngôn ngữ thứ hai là đào tạo học sinh sử dụng ngôn ngữ thứ hai để giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và viết. Sự khác nhau giữa ngôn ngữ thứ 2 (ngoại ngữ) với tiếng mẹ đẻ Tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ. Tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ được phân biệt theo ranh giới quốc gia.
Tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ của đất nước, dân tộc. Ngoại ngữ là tiếng nước ngoài. Trong hoàn cảnh bình thường, tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ đầu tiên của con người, nhưng đối với một số trẻ em di cư, ngôn ngữ đầu tiên họ tiếp xúc và tiếp thu sau khi sinh ra có thể không phải là tiếng mẹ đẻ mà là ngôn ngữ của quốc gia cư trú. Vì vậy, không thể hoàn toàn đánh đồng hai khái niệm ngôn ngữ thứ nhất và tiếng mẹ đẻ.
Ngược lại, ngôn ngữ thứ hai không nhất thiết phải là ngoại ngữ. Việc học hai ngôn ngữ này (tiếng mẹ đẻ và Ngôn ngữ thứ 2 giống khác thế nào) Nhiều người tin rằng nếu chúng ta có thể học ngoại ngữ, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội cạnh tranh hơn. Vậy, chúng ta học ngôn ngữ như thế nào? Đối tượng nghiên cứu có hệ thống về vấn đề này là thụ đắc ngôn ngữ. Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất (First Language Acquis-tion, FLA) nghiên cứu vấn đề trẻ em học tiếng mẹ đẻ, còn được gọi là "tiếp thu tiếng mẹ đẻ".
Theo truyền thống, thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition, SLA) là việc tiếp thu tất cả các ngôn ngữ khác với ngôn ngữ mẹ đẻ, đối tượng nghiên cứu thông thường là người lớn. Trong việc thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất, có một thời kỳ quan trọng (từ sơ sinh đến tuổi vị thành niên) do các yếu tố sinh lý quyết định, sau thời kỳ quan trọng này, việc thụ đắc ngôn ngữ khó đạt đến mức bình thường. Trong việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, đối với câu hỏi có tồn tại giai đoạn quan trọng hay không, các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau. Các học giả đồng ý với giả thuyết thời kỳ quan trọng có những ý kiến khác nhau về thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời kỳ quan trọng cũng như các phương diện khác ảnh hưởng đến lĩnh vực ngôn ngữ.
Ngoài ra, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng "thu nhận" (acquisition) và "học tập"(learning) như các thuật ngữ có thể thay thế cho nhau, tất nhiên, trong lý thuyết của một số nhà nghiên cứu, có sự phân biệt chặt chẽ giữa hai thuật ngữ này.2 Lịch sử đào tạo giáo viên dạy tiếng trên thế giới 1. Các ví dụ như đào tạo giáo viên dạy tiếng Anh Nghiên cứu của nước ngoài về giáo dục giáo viên ngôn ngữ thứ hai chủ yếu tập trung ở Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Các học giả nước ngoài có tương đối ít nghiên cứu có hệ thống về giáo viên ngôn ngữ thứ hai, nhưng nội dung tương đối phức tạp, chủ yếu tập trung vào việc học tập và phát triển của giáo viên, nhận thức của giáo viên và các vấn đề giáo dục và đào tạo. Vào những năm 1960, với sự mở rộng nhanh chóng của tiếng Anh, môn học giáo dục ngôn ngữ thứ hai bắt đầu được thành lập.
Trong suốt những năm 1970, thế giới giảng dạy ngôn ngữ thứ hai đã trải qua sự mất định hướng và bối rối trong suy nghĩ. Trong việc thảo luận về phương pháp giảng dạy, mọi người không đạt được sự đồng thuận nào. Rõ ràng, nghiên cứu dạy học lúc bấy giờ đã bỏ qua vai trò quan trọng của nhận thức giáo viên trong hoạt động dạy học, không coi nhận thức của giáo viên là yếu tố hàng đầu trong quá trình dạy học. Nhận thức của giáo viên là một quá trình rất phức tạp, miêu tả kinh nghiệm tích lũy của giáo viên thông qua quá trình học tập và phát triển là chưa đủ.
Vào những năm 1980, người ta cuối cùng đã nhận ra rằng trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ thứ hai, yếu tố giáo viên vốn dĩ là vô cùng quan trọng này thường bị bỏ qua. Người ta chuyển sang một góc nhìn rộng hơn, sử dụng diễn giải và sinh thái học để hiểu sự phức tạp về mặt nhận thức của việc giảng dạy, nhấn mạnh rằng giảng dạy là một loại hiểu biết, cách 11 lí giải của cá nhân giáo viên về các sự kiện giảng dạy dựa trên nền tảng là môi trường trải nghiệm của họ, vì thế sự hiểu biết, sự tinh tế và phức tạp của mỗi người là khác nhau. Các quan niệm giáo dục của giáo viên nước ngoài cũng đã trải qua một loạt thay đổi dưới sự ảnh hưởng của cách nhìn nhận về ngoại ngữ và giảng dạy ngoại ngữ. Trong các tài liệu về giáo dục ngôn ngữ thứ hai ở nước ngoài, khái niệm giáo dục giáo viên đã trải qua ba giai đoạn phát triển: "đào tạo giáo viên", "giáo dục giáo viên" và "phát triển giáo viên".