Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức" được tác giả Đàm Quang Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Độ, bảo vệ năm 2020. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 9.04.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ việc chức năng công tố giữ vị trí trọng yếu trong tố tụng hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, bảo vệ quyền con người và xây dựng nền tư pháp dân chủ. Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng công tố. Tuy nhiên, văn bản chỉ ra thực tiễn áp dụng còn nhiều bất cập:
- Quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng chưa hợp lý; chưa phân định chính xác, rõ ràng giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa, xét xử);
- Một số quyền thuộc chức năng buộc tội không được giao cho Viện kiểm sát mà lại trao cho Tòa án trong quá trình xét xử;
- Mối quan hệ giữa các chủ thể có chức năng buộc tội (chỉ đạo, phối hợp, chế ước) chưa rành mạch;
- Chưa có sự phân định rõ ràng giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Mặc dù BLTTHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, nhưng các vướng mắc trên chưa được giải quyết triệt để. Trong khi đó, Cộng hòa Liên bang Đức là quốc gia thuộc truyền thống luật lục địa có mô hình tố tụng thẩm vấn tích hợp yếu tố tranh tụng, có hệ thống cơ quan công tố được đánh giá cao về tính khách quan, công tâm. Vì vậy, việc nghiên cứu so sánh pháp luật hai nước đáp ứng trực tiếp yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị.
Mục đích nghiên cứu là so sánh pháp luật về chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức, đánh giá sự tương đồng và khác biệt, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định và nâng cao hiệu quả chức năng công tố tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận chung về chức năng công tố (khái niệm, đối tượng, chủ thể, nội dung, phạm vi; mối quan hệ với chức năng xét xử, bào chữa, điều tra và kiểm sát hoạt động tư pháp);
- Nghiên cứu pháp luật thực định của Đức và Việt Nam, so sánh và đánh giá tổng quan sự tương đồng, khác biệt, rút ra bài học kinh nghiệm;
- Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Chức năng công tố nhìn từ góc độ lịch sử hình thành và thuyết chức năng luận là gì? Mối quan hệ giữa chức năng công tố và các chức năng khác trong tố tụng hình sự nói chung, mối quan hệ giữa chức năng công tố với chức năng kiểm soát hoạt động tư pháp, chức năng điều tra như thế nào?
- Với khái niệm chức năng công tố theo thuyết chức năng luận đã được xây dựng thì: Nội dung của chức năng công tố? Chủ thể tố tụng nắm giữ chức năng công tố? Bản chất của mối quan hệ giữa chủ thể giữ chức năng công tố và chủ thể giữ chức năng điều tra, chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự?
- Sự tương đồng trong tư duy lập pháp và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật tố tụng hình sự Đức?
- Sự khác biệt trong tư duy lập pháp và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật tố tụng hình sự Đức?
- Những yêu cầu và giải pháp để nâng cao hiệu quả của chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay từ kinh nghiệm của Đức?
Giả thiết nghiên cứu: Viện kiểm sát – cơ quan duy nhất giữ chức năng công tố đang được trao trách nhiệm rất lớn trong tố tụng hình sự, tuy nhiên, những quy định cụ thể và pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa bảo đảm cơ chế thực chất để Viện kiểm sát thực hiện chức năng của mình có hiệu quả. Do đó, củng cố lý luận và so sánh, tiếp thu kinh nghiệm của Đức là cần thiết.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là lý luận về chức năng công tố và pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam và Đức. Về phạm vi, pháp luật Việt Nam tập trung vào Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; pháp luật Đức tập trung vào Hiến pháp năm 1949, BLTTHS năm 1987 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Tổ chức Tòa án năm 1975 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Về giải pháp, luận án tập trung hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nghiên cứu phương án thành lập Viện Công tố.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong văn bản phân định thành hai nhóm nghiên cứu trong nước và hệ thống các công trình quốc tế:
Các công trình trong nước trực tiếp về công tố:
- Luận án tiến sĩ của Lê Thị Tuyết Hoa (2002) về quyền công tố tại Việt Nam, xác định bản chất quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát, nhưng công trình gắn với BLTTHS năm 1988, chưa nghiên cứu sâu giai đoạn truy tố và chưa so sánh quốc tế;
- Đề án của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010) về nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố;
- Công trình của Nguyễn Hải Phong, Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Tiến Sơn, Trần Hưng Bình (2014) về tăng cường trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra;
- Sách của Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2008) về thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp trong giai đoạn điều tra, xác định quyền công tố phát sinh khi có tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật;
- Luận án của Khuất Văn Nga (1993) về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước;
- Cuốn tổng kết 50 năm công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010);
- Các bài viết học thuật của Trần Văn Độ (2001, 2015), Nguyễn Thái Phúc (2007), Lê Cảm (2007).
Các công trình trong nước liên quan gián tiếp:
- Luận án của Nguyễn Mạnh Hùng (2012) về ba chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự theo BLTTHS năm 2003;
- Luận án của Lê Tiến Châu (2008) về chức năng xét xử;
- Nghiên cứu của Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (2014) đề xuất áp dụng nguyên tắc truy tố tùy nghi (miễn tố);
- Công trình của Nguyễn Hòa Bình chủ biên (2015) phân tích điểm mới của Điều 236 và Điều 237 BLTTHS năm 2015 (Hoàng Nghĩa Mai bình luận);
- Sách chuyên khảo của Nguyễn Đăng Dung (2012, 2017) về kiểm soát quyền lực nhà nước, chỉ ra cơ quan điều tra cần trực thuộc cơ quan công tố;
- Công trình của Viện Chính sách công và pháp luật (2014), luận án của Nguyễn Quốc Hùng (2016) về kiểm soát quyền lực tư pháp, các bài viết của Phạm Hồng Thái (2012), Đào Trí Úc (2010).
Các nghiên cứu nước ngoài:
- Tại Đức: Elsner và Peters (2006) về chức năng cơ quan công tố trong đối phó quá tải tư pháp; Hans-Jörg Albrecht (2000) về xu hướng phát triển công tố; John H. Langbein (1974) và Joachim Herrmann (1974) về kiểm soát quyền tùy nghi truy tố và nguyên tắc truy tố bắt buộc; Shawn Marie Boyne (2011, 2014) về cơ quan công tố Đức với tư cách người bảo vệ pháp luật.
- Tại Châu Âu và Châu Mỹ: Báo cáo so sánh 9 quốc gia của Open Society Institute Sofia (2008); công trình của Joerg Martin Jehle và Mariane Wade (2006) khảo cứu thẩm quyền truy tố tùy nghi tại 6 nước Châu Âu; Despina Kyprianou (2008) nghiên cứu mô hình công tố Đảo Síp và so sánh thông luật - dân luật; Jacqueline Hodgson (2005) về tư pháp hình sự Pháp; Tony Paul Marguery (1970) về cơ quan công tố tại Séc, Hà Lan, Pháp, Ba Lan; Andrew Sanders (1996) về công tố ở Anh và Wales; John L. và Elaine Nugent-Borakove (2008), National Research Council (2001) về vai trò công tố viên tại Hoa Kỳ; các nghiên cứu của Timothy Waters (2014), Chrisje Brants và Allard Ringnalda (2011, 2014), Yue Ma (2002, 2008).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Thiếu công trình so sánh toàn diện về chức năng công tố giữa tố tụng hình sự Việt Nam và Đức;
- Các nghiên cứu quốc tế thường đồng nhất chức năng công tố với chức năng của cơ quan công tố, chưa phân biệt rạch ròi khái niệm;
- Chưa có công trình tiếp cận chức năng công tố dưới góc độ thuyết chức năng luận để làm rõ vị trí của chức năng này trong hệ thống tố tụng và mối quan hệ với chức năng buộc tội;
- Chưa giải quyết triệt để ranh giới giữa các hoạt động thuộc chức năng công tố với hoạt động điều tra và kiểm sát tư pháp;
- Chưa giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa chức năng công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong cùng một thiết chế Viện kiểm sát tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án gồm:
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp (Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW);
- Lý thuyết chức năng luận: Tác giả dẫn chiếu công trình của M.H. Lessnoff (1969), theo đó chức năng là sự đóng góp của hoạt động bộ phận đối với sự vận hành của cấu trúc tổng thể nhằm duy trì sự thống nhất chức năng và cân bằng hệ thống;
- Lý thuyết về các chức năng tố tụng và mô hình tố tụng hình sự (mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng);
- Quan điểm triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng luận điểm của V.I. Lênin về phương pháp nghiên cứu hiện tượng trong tiến trình lịch sử (Toàn tập, tập 39).
Làm rõ khái niệm chức năng và công tố:
- Về chức năng: Dựa trên Từ điển Tiếng Việt (2005) và Từ điển Luật học (2006), chức năng mang hai đặc điểm: (i) luôn gắn liền với một chủ thể/thiết chế xác định, (ii) là phương diện hoạt động chủ yếu gắn với vai trò của chủ thể trong tổng thể.
- Phân biệt quyền công tố và chức năng công tố: Quyền công tố là quyền lực công của Nhà nước, xuất hiện cùng sự ra đời của Nhà nước để truy cứu tội phạm. Ngược lại, chức năng công tố (theo nghĩa chức năng luận) chỉ hình thành khi Nhà nước trao quyền cho một thiết chế độc lập thay mặt Nhà nước thực hiện việc buộc tội vì lợi ích công cộng. Nếu không thỏa mãn hai yếu tố này thì chưa cấu thành chức năng công tố độc lập.
Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính, kết hợp liên ngành giữa luật học, lịch sử, chính trị học và xã hội học:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chủ đạo xuyên suốt;
- Phương pháp luật học so sánh: Phân tích đối chiếu quy phạm giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Đức;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa: Sử dụng để đánh giá tài liệu, phân tích quy chuẩn thực định;
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng tại Chương 1 để phục dựng tiến trình chuyển đổi từ tư tố sang công tố.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; BLTTHS các năm 1988, 2003, 2015; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
- Văn bản pháp luật Đức: Hiến pháp năm 1949, BLTTHS năm 1987 (sửa đổi, bổ sung 2014), Luật Tổ chức Tòa án năm 1975 (sửa đổi, bổ sung 2019);
- Các văn kiện chính trị, đề án, tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các công trình khoa học trong, ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Lịch sử hình thành và lí luận về chức năng công tố trong tố tụng hình sự
Chương 1 phân tích tiến trình lịch sử và thiết lập khung lý luận về chức năng công tố. Tác giả chỉ ra rằng thời kỳ La Mã cổ đại và đầu trung cổ, tội phạm được coi là vấn đề cá nhân (private affairs), xử lý bằng trả đũa cá nhân hoặc hòa giải bồi thường. Thế kỷ 13 đánh dấu sự phân tách: Anh duy trì chế định tư tố (private prosecution) hơn 6 thế kỷ, trong khi Châu Âu lục địa chuyển dịch sang công tố (public prosecution).
Tại Pháp, chức năng Công tố viên của Nhà vua (Procureur du Roi) ban đầu chỉ bảo vệ lợi ích Nhà vua, dần chuyển hóa thành Công tố viên công quyền (Ministère Publique) độc quyền buộc tội vào cuối thế kỷ 16 vì lợi ích xã hội. Tại Đức, từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16, chế định tư tố suy tàn do quy định người khởi kiện phải nộp một khoản tiền bảo đảm cho Tòa án; nếu không có tiền bảo đảm, người này có thể bị tạm giam cùng bị cáo cho đến khi mở phiên tòa (dẫn chiếu nghiên cứu của Esmein và Langbein). Tại Anh, chế định tư tố tồn tại đến cuối thế kỷ 19; cảnh sát nắm quyền truy tố thực tế trước khi Văn phòng Giám đốc Cơ quan công tố (DPP) ra đời năm 1879 và Đạo luật Tư pháp hình sự năm 2003 chính thức chuyển giao trách nhiệm khởi tố sang cơ quan công tố.
Về mặt lý luận, vận dụng thuyết chức năng luận, tác giả khẳng định chức năng công tố có các yếu tố cấu thành:
- Chủ thể: Cơ quan công tố độc lập được Nhà nước ủy quyền;
- Đối tượng: Tội phạm và người phạm tội;
- Phạm vi: Chỉ phát sinh và vận hành trong phạm vi tố tụng hình sự;
- Nội dung: Quyền quyết định việc truy tố là quyền năng trung tâm, chi phối các quyền năng khởi tố vụ án, khởi tố bị can và duy trì buộc tội trước Tòa án.
Chương 2. Chức năng công tố trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Đức
Chương này đi sâu so sánh quy định pháp luật thực định giữa hai quốc gia:
Điểm tương đồng:
- Cả hai nước đều thuộc mô hình tố tụng thẩm vấn, coi trọng mục tiêu tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án;
- Đều xác định thẩm quyền quyết định việc truy tố là quyền năng trung tâm của chức năng công tố;
- Cơ quan công tố đều có vai trò kiểm soát hoạt động điều tra nhằm bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ và bảo vệ quyền con người.
Điểm khác biệt:
- Vị trí thể chế: Tại Đức, Cơ quan công tố trực thuộc nhánh hành pháp (thuộc Bộ Tư pháp bang hoặc Bộ Tư pháp liên bang), độc lập về mặt chuyên môn tố tụng khi giải quyết vụ án cụ thể. Tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, do Quốc hội thành lập và chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
- Phạm vi chức năng: Cơ quan công tố Đức chỉ thực hiện chức năng công tố/buộc tội. Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam thực hiện song song hai chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
- Mối quan hệ với Cơ quan điều tra: Ở Đức, Viện công tố là cơ quan "chủ trì" điều tra; cảnh sát tư pháp giữ vai trò hỗ trợ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Công tố viên. Ở Việt Nam, Cơ quan điều tra là thiết chế độc lập (thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng), Viện kiểm sát không trực tiếp điều tra toàn diện mà thực hiện cơ chế phối hợp, kiểm sát và thực hành quyền công tố gắn với điều tra.
- Nguyên tắc truy tố: Đức xuất phát từ nguyên tắc truy tố bắt buộc (Legalitätsprinzip) nhưng đã mở rộng nguyên tắc tùy nghi truy tố (Opportunitätsprinzip) để đình chỉ vụ án có điều kiện, xử lý tình trạng quá tải thụ lý án. Việt Nam áp dụng nguyên tắc truy tố bắt buộc, chưa ghi nhận cơ chế tùy nghi truy tố linh hoạt.
- Phân định giữa buộc tội và xét xử: Tòa án tại Việt Nam còn nắm giữ một số quyền hạn mang tính buộc tội như trả hồ sơ để điều tra bổ sung, khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa (Điều 20 BLTTHS 2015 chưa khắc phục triệt để). Tại Đức, sự phân định giữa buộc tội và xét xử được thực hiện phân tách rạch ròi.
| Tiêu chí so sánh |
Tố tụng hình sự Việt Nam |
Tố tụng hình sự Đức |
| Mô hình tố tụng |
Thẩm vấn, đang tiếp thu yếu tố tranh tụng |
Thẩm vấn, tích hợp các yếu tố tranh tụng |
| Vị trí thể chế cơ quan công tố |
Hệ thống độc lập, do Quốc hội thành lập |
Thuộc nhánh hành pháp (Bộ Tư pháp) |
| Phạm vi chức năng |
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp |
Chuyên trách chức năng công tố |
| Quan hệ với Cơ quan điều tra |
Phối hợp, chế ước; Cơ quan điều tra độc lập |
Công tố chủ trì, chỉ đạo trực tiếp cảnh sát |
| Nguyên tắc truy tố |
Truy tố bắt buộc là chủ đạo |
Truy tố bắt buộc kết hợp truy tố tùy nghi |
| Thẩm quyền buộc tội của Tòa án |
Còn duy trì (khởi tố vụ án tại phiên tòa) |
Tách biệt hoàn toàn khỏi chức năng xét xử |
Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam từ kinh nghiệm của Đức
Dựa trên yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và kinh nghiệm thực định từ Đức, chương này đề xuất các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện lập pháp tố tụng hình sự: Tách bạch chức năng buộc tội và chức năng xét xử, bãi bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án tại phiên tòa;
- Tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, xác lập cơ chế công tố chỉ đạo điều tra một cách thực chất;
- Nghiên cứu tiếp thu nguyên tắc truy tố tùy nghi từ pháp luật Đức, xây dựng chế định miễn tố có điều kiện nhằm giảm tải áp lực án hình sự và phân hóa tội phạm;
- Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp;
- Về lâu dài, nghiên cứu tổ chức lại mô hình Viện kiểm sát nhân dân theo hướng thành lập Viện Công tố nhằm tập trung nguồn lực thực hiện chức năng công tố chuyên nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu so sánh chuyên sâu đầu tiên giữa pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Đức về chức năng công tố;
- Vận dụng thuyết chức năng luận để phân biệt rạch ròi giữa "quyền công tố" (quyền lực nhà nước gắn với sự ra đời của nhà nước) và "chức năng công tố" (chỉ hình thành khi nhà nước ủy quyền cho một thiết chế độc lập thay mặt nhà nước buộc tội vì lợi ích công cộng);
- Làm sáng tỏ bản chất của các yếu tố cấu thành chức năng công tố: chủ thể độc lập, đối tượng là tội phạm và người phạm tội, phạm vi trong tố tụng hình sự, nội dung trọng tâm là quyền quyết định truy tố;
- Luận giải mối quan hệ giữa chức năng công tố với chức năng xét xử, chức năng điều tra và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Cung cấp luận cứ khoa học và phân tích so sánh thực định giữa BLTTHS năm 2015 của Việt Nam với BLTTHS năm 1987 (sửa đổi 2014) và Luật Tổ chức Tòa án năm 1975 (sửa đổi 2019) của Đức;
- Đề xuất sửa đổi các quy định còn bất cập trong BLTTHS năm 2015, loại bỏ các yếu tố buộc tội của Tòa án để bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử;
- Kiến nghị xây dựng cơ chế truy tố tùy nghi có kiểm soát và định hướng đổi mới mô hình cơ quan công tố tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79-KL/TW.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi luật so sánh giới hạn ở hai quốc gia theo truyền thống dân luật (Việt Nam và Đức), chưa mở rộng khảo cứu thực nghiệm sâu đối với các nước theo truyền thống thông luật (common law);
- Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2020), BLTTHS năm 2015 mới có hiệu lực áp dụng từ đầu năm 2018, do đó nguồn dữ liệu thực tiễn và án lệ liên quan đến các quy định mới (như Điều 236, 237) chưa tích lũy được chuỗi thời gian dài hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Đánh giá tác động thực tiễn dài hạn của BLTTHS năm 2015 đối với chất lượng thực hành quyền công tố tại các cấp Viện kiểm sát;
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp đối với quyền tùy nghi truy tố nếu được nội luật hóa tại Việt Nam;
- Khảo sát sâu hơn về mô hình tổ chức bộ máy và lộ trình tái cấu trúc Viện kiểm sát nhân dân thành Viện Công tố trong bối cảnh cải cách tư pháp giai đoạn mới.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị tham khảo chuyên ngành cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan cải cách tư pháp: Là tài liệu nghiên cứu phục vụ việc rà soát, sửa đổi BLTTHS và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự;
- Cơ quan thực hành quyền công tố và các cơ quan tư pháp: Giúp Kiểm sát viên, Thẩm phán và Điều tra viên nhận thức rõ ranh giới thẩm quyền giữa buộc tội, điều tra và xét xử;
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Nguồn tài liệu học thuật về luật học so sánh, tố tụng hình sự và lý thuyết chức năng tố tụng trong các mô hình tư pháp đương đại.
Câu hỏi thường gặp
-
Sự khác biệt cốt lõi giữa "quyền công tố" và "chức năng công tố" theo luận án là gì?
Luận án chỉ ra quyền công tố là quyền lực của Nhà nước, xuất hiện gắn liền với sự hình thành của Nhà nước để chống lại tội phạm. Ngược lại, chức năng công tố theo thuyết chức năng luận là phương diện hoạt động chủ yếu chỉ xuất hiện khi Nhà nước trao quyền cho một thiết chế độc lập thay mặt Nhà nước thực hiện việc buộc tội vì lợi ích công cộng.
-
Vì sao chế định tư tố ở Đức bị suy tàn từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16?
Theo các nghiên cứu lịch sử pháp lý được luận án trích dẫn (Esmein, Langbein), pháp luật Đức thời kỳ đó quy định người phát động buộc tội cá nhân phải đặt tiền bảo đảm để đền bù nếu thất bại; trường hợp không có tiền bảo đảm, người này có nguy cơ bị tạm giam cùng với bị cáo cho đến ngày mở phiên tòa. Quy định này khiến tư tố dần bị triệt tiêu và nhường chỗ cho công tố.
-
Điểm khác biệt lớn nhất về vị trí thể chế giữa cơ quan công tố Đức và Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam là gì?
Tại Đức, Cơ quan công tố trực thuộc nhánh hành pháp (thuộc sự quản lý hành chính của Bộ Tư pháp) nhưng độc lập về nghiệp vụ giải quyết vụ án. Tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước, do Quốc hội thành lập và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội.
-
Nguyên tắc truy tố nào được Cơ quan công tố Đức áp dụng và mang lại kinh nghiệm gì cho Việt Nam?
Đức áp dụng nguyên tắc truy tố bắt buộc làm nền tảng nhưng kết hợp mở rộng nguyên tắc truy tố tùy nghi để đình chỉ vụ án có điều kiện đối với các tội phạm ít nghiêm trọng nhằm giảm tải cho hệ thống tư pháp. Luận án kiến nghị Việt Nam cần nghiên cứu tiếp thu nguyên tắc truy tố tùy nghi có điều kiện này.
-
Bất cập lớn nào trong BLTTHS năm 2015 được luận án chỉ ra liên quan đến chức năng xét xử của Tòa án?
Luận án chỉ ra sự thiếu triệt để trong việc phân định các chức năng cơ bản khi Tòa án vẫn được giao một số thẩm quyền mang bản chất buộc tội, điển hình là quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa, dẫn đến việc cơ quan xét xử kiêm nhiệm chức năng của bên buộc tội.
Kết luận
Luận án của tác giả Đàm Quang Ngọc là công trình nghiên cứu so sánh có hệ thống về chức năng công tố giữa tố tụng hình sự Việt Nam và Đức. Bằng việc kết hợp thuyết chức năng luận và phương pháp luật học so sánh, luận án đã phân định rạch ròi khái niệm quyền công tố với chức năng công tố, đồng thời định vị các thuộc tính pháp lý của chức năng này trong mô hình tố tụng thẩm vấn. Các phát hiện về sự khác biệt thể chế và nguyên tắc truy tố giữa hai quốc gia cung cấp cơ sở học thuật phục vụ việc hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự và định hướng cải cách mô hình Viện kiểm sát nhân dân tại Việt Nam.