CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu đã được công bố Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả nhận thấy rằng những công trình nghiên cứu về CLCS nói chung của Bangkok và Hà Nội nói riêng khá đa dạng và phong phú. Tác giả của những công trình này đã lựa chọn những khía cạnh, lĩnh vực, môi trường sống khác nhau có liên quan đến cuộc sống để nghiên cứu, phản ánh, đánh giá CLCS đô thị nhưng mang tính chất riêng lẻ, đơn ngành như: về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, dịch vụ đô thị, cơ sở hạ tầng, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường. để nghiên cứu, phản ánh, đánh giá về chất lượng cuộc sống đô thị.
Hoặc theo hướng khác, các công trình đó đã nghiên cứu sâu về CLCS của một tầng lớp dân cư trong xã hội như: người cao tuổi, người di cư, người lao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp,. Những công trình đã công bố bao gồm: sách tham khảo, các bài báo được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và luận án tiến sĩ. Với mong muốn việc khảo sát các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và khoa học, tác giả đã sắp xếp và phân chia các công trình nghiên cứu thành 3 nhóm vấn đề: thứ nhất, các công trình nghiên cứu CLCS của Bangkok; thứ hai, các công trình nghiên cứu CLCS của Hà Nội; thứ ba, các công trình nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer. Trong mỗi nhóm vấn đề, các nội dung nghiên cứu sẽ bao quát đầy đủ Bộ chỉ số của Mercer gồm 39 chỉ số thành phần, được sắp xếp gộp lại thành 3 nhóm cụ thể gồm: Các chỉ số về chính trị, kinh tế.
Các chỉ số về văn hóa, xã hội. Các chỉ số về môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị. Các nghiên cứu đã được công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok 1. Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số chính trị, kinh tế Cùng với quá trình phát triển kinh tế, thì đô thị hóa cũng diễn ra nhanh chóng ở Bangkok và nhiều thành phố lớn khác của Thái Lan làm cho CLCS đô thị có nhiều cải thiện so với những vùng nông thôn khác.
Bộ mặt đô thị đã sớm được hình thành cùng 15 (LUAN.mercer TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mercer với sự phát triển đa dạng của nhiều loại hình kinh tế và dịch vụ. Bangkok đã sớm tận dụng được những lợi thế của mình để phát triển các ngành kinh tế và dịch vụ như: du lịch y tế, khám chữa bệnh (dịch vụ thẩm mỹ sắc đẹp); du lịch hội nghị, hội thảo. Dịch vụ Y khoa ở Đông Nam Á có xu hướng rẻ hơn nhiều so với ở châu Âu và Bắc Mỹ. Các nghiên cứu đưa ra kết quả về quy mô của lĩnh vực này rất khác nhau, nhưng theo NaRanong A, NaRanong V thì trong năm 2008, du lịch y tế ở Thái Lan đã tạo ra từ 46 tỷ baht đến 52 tỷ baht (1 đô la Mỹ [USD] = 30 baht), doanh thu từ các dịch vụ y tế còn được cộng thêm 12 đến 13 tỷ baht từ du lịch liên quan.
Điều này làm cho tổng doanh thu tăng từ 58 tỷ baht đến 65 tỷ baht, tạo ra giá trị gia tăng từ 31 tỷ baht đến 35 tỷ baht từ các dịch vụ y tế, cộng với 5,8 tỷ baht đến 6,5 tỷ baht từ du lịch. Tại thời điểm này, các chuyên gia đã dự báo thị trường du lịch y tế của Thái Lan sẽ tăng hơn gấp đôi 2015, nếu vẫn duy trì mức tăng như năm 2011 [PR Newswire. Tổng số tiền này chiếm tổng giá trị gia tăng từ 36,8 tỷ baht đến 41,6 tỷ baht, tương đương 0,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo các kịch bản khác nhau, giá trị gia tăng từ du lịch y tế dự kiến sẽ đạt từ 59 tỷ baht đến 110 tỷ baht trong năm 2012 [NaRanong A, NaRanong V, 2011, pp.
Cho đến nay, Bangkok tiếp tục là trung tâm chính của các hoạt động kinh tế, chủ yếu dựa vào công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Sự tăng trưởng về du lịch đã nhanh chóng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các sân bay ở các thành phố Đông Nam Á. Cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các sân bay của Singapore; sân bay Suvarnabhumi của Bangkok và sân bay Quốc tế Kuala Lumpur là trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch ở Đông Nam Á và dành cho những hành khách đến từ châu Âu và Bắc Mỹ. Các thành phố như Chiang Mai, Cebu City, Surabaya và Penang cũng tìm cách phát triển sân bay của họ thông qua các việc liên kết không chỉ với thành phố thủ đô, mà còn với các điểm đến quốc tế khác [Trevor Hogan, Tim Bunnell et al 2012, pp.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng sẽ khó quản lý một thành phố lớn hơn một thị trấn nhỏ. Tuy nhiên, Tokyo với 36 triệu dân không chỉ là thành phố đông dân nhất trên thế giới mà còn là một thành phố giàu có nhất với GDP ước tính là 1. Mặc dù tắc nghẽn giao thông khét tiếng nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bangkok vẫn tăng mạnh. Việc quản lý các khu vực đô thị 16 (LUAN.mercer TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mercer lớn có thể đặt ra những yêu cầu và các phương pháp tiếp cận mới cùng với một khung thể chế mới nhưng các vấn đề về kích thước có thể khắc phục được.
Một nghiên cứu khác cũng cho rằng, mặc dù xếp hạng về cạnh tranh thấp nhưng khu vực Đông Nam Á vẫn đang thu hút lớn các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đô thị hoá nhanh chóng có thể dẫn đến sự gia tăng các thành phố ở các nước đang phát triển trong hàng ngũ các địa điểm thu hút FDI hàng đầu trên thế giới. Và Singapore luôn nằm trong 5 thành phố hàng đầu ở châu Á - Thái Bình Dương về thu hút vốn đầu tư, bất chấp sự sụt giảm tới 8% các dự án thực tế đang hoạt động năm 2008. Bangkok cũng đã tăng gấp đôi thị phần của mình gần 2% do tăng trưởng vốn đầu tư 130 USD/cent [FDI Intelligence, 2009, pp.
Và để định lượng CLCS [Thailand, 2014, pp.17, 101], Thái Lan cũng đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS: đó là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm. Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS đồng thời đưa ra những biện pháp thực hiện cụ thể gắn liền với địa bàn dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ tầng xã hội của Nhà nước. Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá CLCS theo 3 mức yếu kém (một sao), trung bình (hai sao), khá (ba sao). Trong 9 chuẩn mực sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo vệ môi trường.
Có thể thấy, các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết. Tuy nhiên, bộ chỉ số này được xây dựng để dùng chung trong cả nước nên việc chú trọng vào các đặc điểm của đô thị lớn còn hạn chế, hơn nữa công trình này cũng không được tiến hành khảo sát và cập nhật nghiên cứu thường xuyên, định kỳ nên các vấn đề CLCS đề cập trong nghiên cứu chỉ có ý nghĩa tại thời điểm tiến hành nghiên cứu vì CLCS có thể thay đổi theo không gian và thời gian. Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội CLCS đô thị không chỉ phản ánh qua thước đo kinh tế, chính trị mà còn được nhấn mạnh ở một số nhân tố khác về văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội. và được phản ánh ở một số nghiên cứu như: 17 (LUAN.mercer TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mercer Thông qua biện pháp đo lường chủ quan, đa dạng, nghiên cứu “CLCS ở châu Á”, của Inoguchi T.
& Fujii, S (2013) được thực hiện từ năm 2003 đến 2008 ở 29 quốc gia châu Á trong đó có Thái Lan, Malaysia. CLCS tổng thể ở châu Á đã được đo lường, đánh giá qua mức độ hạnh phúc, sự hưởng thụ và thành tích của người dân. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng ở một số nước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan và Việt Nam có sự năng động, cạnh tranh hơn. Người dân có xu hướng ưu tiên cho các hoạt động văn hóa tinh thần nhằm nâng cao CLCS (như tình bạn, hôn nhân, hàng xóm, cuộc sống gia đình, giải trí và đời sống tinh thần) trong lối sống hàng ngày của họ [Inoguchi T.
Còn trong một số nghiên cứu khác lại cho rằng, yếu tố động mạnh đến CLCS người dân ở các thành phố hiện nay đó là sự phân hóa giàu nghèo, đặc biệt là ở các thành phố của những nước đang phát triển như ở khu vực Đông Nam Á. Điều rất dễ thấy ở khu vực này là tình trạng bất bình đẳng thu nhập như một sự tương phản giữa người giàu và người nghèo đô thị, UN - HABITAT (2008) ước tính Hệ số Gini trung bình(1) của đô thị châu Á là 0,39 và các thành phố được chọn như sau: Jakarta: 0,32 (2002); PhnômPênh: 0,36 (2004); Hà Nội: 0,39 (2002); Manila: 0,41 (2003); Bangkok: 0,48 (2003) và Thành phố Hồ Chí Minh: 0,53 (2002) [UN - HABITAT, 2008, 112]. Một sự phát triển đáng kể ở Đông Nam Á là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu ở các trung tâm đô thị. Mặc dù được hình thành từ nhiều cách khác nhau nhưng cần phải khẳng định rằng tầng lớp trung lưu mới nổi trong xã hội thường là những đối tượng được đào tạo tốt, có việc làm ổn định, là chuyên gia, thường trong lĩnh vực chính thức và có đủ thu nhập để chi tiêu vượt ra ngoài những nhu yếu phẩm cơ bản hàng ngày mà họ đang có xu hướng hướng tới các vật dụng như xe hơi và nhà ở.
Thu nhập ổn định từ việc làm đã tạo ra một thế đứng vững chắc cho tầng lớp trung lưu trong xã hội và nền kinh tế khi nắm một khối lượng tài sản cũng như nhu cầu mua sắm trong cuộc sống ngày càng thay đổi tăng cao [Shiraishi, 2004, 94]. Trong một nghiên cứu khác của S.