chương 1). Từ nguyên lý ay, nhà nho rút ra ba hệ luận dé vận dụng vào việc xây dựng một hệ thống luân lý phù hợp với xã hội phong kiến mà họ sống và tham gia hoạt động là chính danh, nhất quán và trung dung. Ông tổ của nho giáo - Không Tử đã từng nói: "Danh không chính thì lời không xuôi, lời không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không trôi. Cho nên bậc quân tử dùng danh phải nói ra được, nói ra được thì phải làm cho được "(Luận ngữ, “Tử Lộ”, IID.
Như vậy ông đã đưa ra thuyết chính danh nhằm mục đích đưa xã hội vào vòng trật tự. Ông quan niệm rằng sự hỗn loạn đương thời chăng qua là do mỗi người tự làm không đúng với cái phận của mình quy định bằng cái danh. Cho nên thuyết chính danh của ông không ngoài chủ trương đưa mỗi người vào đúng vị trí của họ. Và cũng từ đó, các hậu bối tiến thêm một bước, quy định chặt chẽ nghĩa vu của từng thành viên trong xã hội, tạo ra "tam cương, ngũ luân".
Thực hiện chính danh theo ngũ luân để đưa xã hội vào kỉ cương, trật tự, ắt phải có phương pháp giáo hóa. Phương pháp ấy nhà nho gọi là nhất quán tức "nhát dĩ quán chỉ". Tăng Tử có lần giải thích cái đạo "nhất di quán chi" rằng: "Phu tử chi đạo, trung thứ nhi di hi" (Đạo của thầy chỉ trung và thứ mà vậy thôi) (Luận ngữ, “Lí nhân”, XV). Như vậy, nhất quán tức là "trung thứ".
Không Tử cũng có lần dặn môn sinh: "Kì thứ hồ: kỉ sở bất dục vật thi ư nhân" (Thứ là thé này: cái gì mình không muốn thì đừng thi hành cho người khác)(Luận ngữ, “Vệ Linh công”, XXIII). Còn Tang Tử thì tự xét mình: "Vi nhân mưu nhi bất trung hồ" (Mưu việc cho người mà có hết lòng chăng)(Luận ngữ, “Học nhỉ”, IV) Theo đó, thì thứ là khía cạnh tiêu cực, trung là khía cạnh tích cực của một đạo cốt yếu. Thứ là "suy bụng ta ra bụng người" dé khỏi làm hại người khác, Trung là giúp đỡ ai thì găng sức hét lòng từ dau đên cuôi như làm cho mình vậy. Sách Trung dung có câu: "Trung thứ vi đạo bất viễn" (Có trung thứ thì không cách xa dao)(Khéng Cấp, chương XIII).
Như vậy, trung và thứ tóm lại một mối thành ra "nhân". Nhân là cái đạo làm người lí tưởng, gồm những nghuyên tắc phổ biến dé "hành ki đãi nhân" (làm cho minh và đối với người), "tu kỉ di an nhân" (sửa mình va vỗ yên người khác). Vậy, theo nhà nho, phép "nhất di quán chi" khởi đầu tại một mối nhân, suy rộng ra hai lẽ trung và thứ. Rồi từ trung và thứ suy rộng ra thành năm mối luân thường ứng dụng trong xã hội.
Nguồn gốc của luân thường là thuyết chính danh, phương pháp để chính danh là nhất quán, nhưng muốn thực hiện chính danh và nhất quán thì cần điều kiện bên trong con người là trung dung. Trình Tử đã định nghĩa: "Bat thiên chi vị trung, bat dịch chi vị dung. Trung gia thiên hạ chi chính dao, dung giả thiên hạ chi định lí” (Không nghiên lệch gọi là trung, không thay đổi gọi là dung. Trung là cái đạo ngay thăng trong thiên hạ, dung là cái lẽ nhất định của thiên hạ)(Không Cấp, sdd, Bai twa).
Như vậy, dung là không thay đổi, lúc nào cũng phải theo, không giây phút nào tách rời ra xa mình được. Chữ trung phức tạp hơn nhiều với một quan niệm tổng hợp qua thời gian. Trung là chính giữa, không nghiêng lệch, cái gì cũng ở mức độ vừa phải, không thái quá, chang bat cập. Vậy, trung dung là lựa chọn ding con đường ngay thang và ngắn nhất dé đi đến chỗ trọn lành, biết rõ nơi khởi điểm cũng như đến chỗ cùng đích, và cô gang không bỏ dở nửa chừng.
Nói đến Nho giáo có rất nhiều vấn đề. Nho giáo ra đời mang đến cho nhân loại một học thuyết mang tên "Quân tử chi đạo"(đạo của người quân tử) mà hạt nhân của nó chính là chữ Nhân. Đó là mục đích cao nhất của tu dưỡng đạo đức. Con người là tong hòa của các mỗi quan hệ xã hội nhưng Nho giáo lại chia con người thành hai dang là tiểu nhân và quân tử.
Hai dạng người này khác nhau bởi chữ Nhân. Người quân tử sở hữu chữ nhân, còn kẻ tiểu nhân thì không có. Chữ Nhân là tong hòa của bốn chữ "dũng, thanh, đức, tài". Người ding cam làm việc nghĩa chưa chắc đã là Nhân.
Người thanh cao, trong sạch nhưng trong sạch không bao gồm Nhân. Người giữ mình đến mức không hiếu thắng, không khoe khoang, không oán giận, nhưng làm bấy nhiêu điều vẫn chưa tròn được chữ Nhân. Người tài trí hơn người chưa chắc đã là Nhân. Vì thế, để làm tròn được chữ Nhân, người quân tử phải thờ vua, kính nhường cha mẹ, và "huệ dân".
Cho nên, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tin là điêu người ta hay dung đê nói vê người quân tử. Nho giáo là một học thuyết đậm đà tính thế tục, tập trung chú ý vào các vấn đề nhà nước, xã hội hơn là các vấn đề có tính chất triết học, vũ trụ luận. Vấn đề chủ yêu là biện luận đạo đức xã hội, là những chuẩn tắc, phương thức ứng xử trong các mối quan hệ xã hội và gia đình. Nho giáo rèn luyện con người theo đạo.
Và đạo của nhà Nho là "tu thân, té gia, trị quốc, bình thiên hạ". Không Tử đã từng nói :"Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản" (Từ vua đến dân ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc". Đó là con đường lí tưởng mà nho giáo vạch ra. Trước tiên phải tu thân, rồi mới trải qua nhiều công đoạn là trị quốc, bình thiên hạ.
Muốn tu thân là phải sửa cho mình thành người đức hạnh. Muốn thế, phải giữ tâm mình cho chính, cái ý của mình cho thành. Lấy tu thân làm gốc, lấy đức mục nhân làm đức mục cao nhất của quá trình tu thân, nhà nho vượt qua nhiều trở ngại. Con đường nho gia vạch ra với môn sinh là học dé hành, học dé ra làm quan, giúp vua giáo hóa dân, huệ dân.
Đó là con đường nhập thế, tức hành đạo (thực hiện cái đạo của mình). Nhưng việc hành đạo không bao giờ suôn sẻ. Khi vua sáng, tức vua tuân theo lí thuyết nho giáo, thì việc hành đạo hanh thông. Khi gặp vua tối, tức vua không tuân theo lí thuyết nho giáo thì việc hành đạo trở nên khó khăn.
Đặc biệt là khi loạn lạc, học thuyết trị bình của nho giáo trở nên bat lực. Khi ấy, các nhà nho lựa chọn con đường thứ hai là lui về ở ân dé bảo vệ cái đạo của mình. Do đó, xuất (ra làm quan) va xử (về ở ân) tưởng như đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất với nhau: một cách ứng xử trong hai hoàn cảnh khác nhau. Cả hai loại hình này không xa dời cái gôc tu thân của mình.
Dé nhìn nhận một cách tổng quan về Nho giáo thì cần một quá trình tìm hiểu va nghiên cứu lâu dài. Hệ tư tưởng nho giáo đến ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Việt Nam. Bởi văn hóa tiếp nhận của Việt Nam là hòa nhập nhưng không hòa tan. Do đó, khi Nho giáo thâm nhập vào nước ta đã ít nhiều có sự biến đổi dé phù hợp với tình hình xã hội thực tai.
Nho giáo với dòng cháy văn hóa Việt Nam. Nước Việt Nam từ chỗ một vùng đất nhỏ bé ở chung quanh linh sơn Tản Viên (nước Văn Lang) đã ton tại qua áp lực nặng nề của thời kì Bắc thuộc, dé rồi vươn mình lớn mạnh thành một dải giang son gam vóc như ngày nay, at han phải có cái gì đặc biệt. Đó chính là sức mạnh văn hóa chung đúc từ hàng nghìn năm lịch sử, vừa dung nạp tĩnh hoa ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, trong đó Nho học chỉ là một bộ phận. Và theo dòng lịch sử, Nho giáo cũng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Từ xưa, trước khi nước ta thoát khỏi tình trạng xã hội bán khai thời tiền sử, người Trung Quốc đã sớm tròng cái ách đô hộ lên đầu người dân Lạc Việt rồi. Nhưng ở thời Triệu (207 — 111 TCN), chúng ta chưa tiếp nhận ảnh hưởng nào từ nền văn minh phương Bắc. Sử sách cũ ghi chép lại: “Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán .Còn về phần giáo hoá, phong tục không dé ý đến một chút nào”. Do vậy, lúc đầu, nước ta chỉ lệ thuộc vào Trung Quốc một cách lỏng lẻo, gián tiếp dưới quyền một viên sứ giả.
Họ cốt vơ vét tài nguyên chứ không thống trị chặt chẽ về tinh thần. Nhân dân vẫn sống tự do theo nền nếp, phong tục riêng của mình. Mãi đến đầu đời Đông Hán, sau khi dẹp xong khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện đã tô chức lại guồng máy chính trị hết sức chu đáo, khắt khe. Từ đó mới thấy có vài đại biểu khởi sự gieo hạt giống Nho giáo vào nước ta dù rất là hạn chế.
Tuy vậy, vẫn phải thấy răng, “kết quả của hơn một nghìn năm đô hộ chỉ là sự nghèo nàn cùng khốn đi kèm với tâm trạng đối kháng thường trực của đại đa số nhân dân. Nho học có truyền bá vào chăng, cũng chỉ lưu hành trong phạm vi các nhà cai trị ngoại quốc, các kiều dân Trung Hoa cùng bọn thượng lưu bản xứ rất ít ỏi và thường mang tinh than vong ban mỗi khi “làm nên””(Lê Nguyễn Lưu, Nguồn suối 9999 nho học và thơ ca Bạch Vân cư sĩ, tr 28). Cảnh ngộ đau thương thực tại khiến con người mất đi sự tin tưởng, nếu không có thái độ phản kháng thì cũng chỉ trông mong ở cuộc đời bên kia hoạ chăng có gì tốt đẹp. Vì thế không phải là Nho học mà là Phật học sớm được pho bién trong đại chúng.
Thời gian đầu sau khi nước ta thoát khỏi vòng lệ thuộc, Nho giáo cũng không có gì khởi sắc hơn. Do nhu cầu đối phó với các cuộc hỗn loạn, các nhà lãnh đạo Ngô, Đinh, Tiền Lê dụng võ mà xao lãng văn trỊ. Đến thời Lí - Tran, xã hội ôn định, Nho học cũng phải nương theo Phật học mà len lỏi vào triều đình. Lần đầu tiên, năm 1070, vua Lí Thánh Tông dựng Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Không Tử, Chu Công và tiên hiền.
Năm 1075, vua Lí Nhân Tông mở khoa thi “tam trường” để chọn những người “minh kinh bác học”, năm sau lập Quốc Tử Giám.Như vậy, nhà Nho khởi sự được một chỗ đứng rất khiêm tốn.