Phần mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững 2.1 Khái niệm sinh kế bền vững Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Nó có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Trong tiếng Tây Ban Nha, sinh kế được hiểu như là “một cách sống bền vững”. Trong tiếng Nga, nó được hiểu theo nghĩa “tạo thu nhập và việc làm nông thôn”.
Còn theo DFID (1999), sinh kế bao gồm ba nhân tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. Có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở, mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ (Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như đạt được các ước nguyện của họ” (DFID, 1999). Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc.
Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai – trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai (Chambers & Conway, 1992). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, Dễ tiếp cận, Có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, Tổng thể, Thực hiện ở nhiều cấp, Trong mối quan hệ với đối tác, Bền vững và Năng động. Trong các thành phần khác nhau của một sinh kế thì thành phần phức tạp nhất là danh mục các tài sản mất đi khi mà người dân xây dựng lại cuộc sống của họ.
Danh mục tài sản này bao gồm tài sản hữu hình như cửa hàng và tài nguyên, và tài sản vô hình như quyền lợi và khả năng tiếp cận (Krantz, 2001).2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững Khung sinh kế bền vững là một phương pháp tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận sinh kế của con người. Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen về các quyền (entitlements) trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo (1981) và gần đây được Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) thúc đẩy (Diana Carney (ed.) 1998) cũng như được các học giả cùng với các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi (Anthony Bebbington 1999; Koos Neefjes 2000; Frank Ellis 2000). Lý thuyết khung sinh kế bền vững cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh, đảm bảo sinh kế của mình, bao gồm: vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital), là những loại vốn đóng cả hai vai đầu vào và đầu ra. Tiếp cận sinh kế bền vững cũng thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế (Paulo Filipe 2005: 3).
Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nghiên cứu này tác giả tập trung phân tích khung lý thuyết về sinh kế bền vững của ba tổ chức UNDP, CARE và DFID.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP Theo UNDP có 5 bước để thiết kế, thực thi và đánh giá những chương trình sinh kế bền vững, đó là: Bước 1: Xác định sự đền bù được thực hiện dựa trên những rủi ro phải đối diện, những tài sản và những kiến thức cộng đồng mất đi. Bước 2: Phân tích vi mô, vĩ mô, chính sách mà nó tác động đến chiến lược sinh kế của người dân. Bước 3: Hỗ trợ và xác định những đóng góp tiềm năng của khoa học kỹ thuật hiện đại, góp phần bổ sung hệ thống kiến thức bản địa góp phần cải thiện sinh kế. Bước 4: Nhận dạng những đầu tư về Kinh tế xã hội để loại bỏ những cản trở chiến lược sinh kế.
Bước 5: Đảm bảo rằng giai đoạn đầu tiên của quá trình thích ứng phải diễn ra thực sự để mà toàn bộ tiến trình hoàn toàn là sự phát triển, hơn là những sự kiện riêng lẻ. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP tập trung vào hai chiến lược: đối phó và thích ứng. Chiến lược đối phó (coping) là sự đối phó trong ngắn hạn trước một cú sốc cụ thể. Còn chiến lược thích ứng (adaptation) đưa đến những thay đổi dài hạn trong cách ứng xử trước những cú sốc hay những căng thẳng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 NGƯỜI DÂN Khả năng sinh kế Đời sống Tài sản và Tài sản và tài nguyên tài nguyên Tài sản hữu hình Tài sản vô hình Nguồn: Krantz, 2001 Sơ đồ 2.1: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP Theo Krantz (2001), thông thường những nghiên cứu của UNDP được thực hiện ở cấp độ quốc gia và vận hành những chương trình đặc biệt ở cấp độ một vùng tương đương cấp huyện.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE Khung lý thuyết này tập trung vào sinh kế hộ gia đình. CARE đưa ra mô hình hoạt động của một sinh kế dựa trên tính năng động và sự tương tác được lập trình sẵn, gồm các bước sau: Bước 1: Nhận dạng những khu vực địa lý tiềm năng, sử dụng dữ liệu thứ cấp để tìm ra những chủ hộ. Bước 2: Nhận dạng những nhóm bị tổn thương và những khó khăn về sinh kế mà họ phải đối mặt. Bước 3: Thu thập những dữ liệu phân tích, ghi chú những xu hướng về thời gian và nhận dạng những chỉ dẫn mà nó sẽ được kiểm định.
Bước 4: Lựa chọn những khu vực để thực thi các chính sách can thiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Tài nguyên thiên Về an ninh của: nhiên Lương thực Cơ sở hạ tầng Dinh dưỡng Tài sản Kinh tế Sức khỏe Vốn con người Vốn xã hội Vốn kinh tế Văn hóa Khả năng sinh kế Lợi ích và cơ Cứa hàng và Nguồn nước Chính trị hội các nguồn lực Nhà ở Môi trường Giáo dục Sự trợ giúp của Căng thẳng cộng đồng và va chạm Thu nhập Hộ gia Tiêu An toàn cá nhân Sản xuất đình thụ va Sản Trao đổi Xử lý Tình huống Chiến lược sinh kế Kết quả sinh kế Nguồn: Krantz, 2001.2: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE Mục tiêu chính trong nghiên cứu về sinh kế của CARE là hiểu được tính tự nhiên của những chiến lược sinh kế ở những mục khác biệt trong hộ gia đình, tức là nhận dạng những khó khăn và những cơ hội.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID Khung lý thuyết đã đưa ra các phân tích sinh kế theo các phần về tổ chức, chính sách, nghiên cứu, những quy tắc về văn hóa. Nó quyết định ai được thụ hưởng những loại tài sản nào và hệ thống những chiến lược sinh kế cuốn hút người dân. Theo Phạm Minh Trí (2011), phương pháp tiếp cận của DFID nhằm tăng hiệu quả của các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ trong việc giảm những tác động từ những “cú sốc” theo hai cách chính: thứ nhất lấy con người làm trung tâm; thứ hai là áp dụng tổng thể chương trình hỗ trợ, để cải thiện sinh kế của người dân.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chính sách, Các chiến lƣợc SK Các kết quả SK Bối cảnh dễ tiến trình và cơ cấu -Các tác nhân xã -Thu nhập nhiều hơn tổn thƣơng Con ngƣời hội (nam, nữ, hộ -Cuộc sống đầy đủ hơn - Xu hướng -Ở các cấp gia đình, cộng -Giảm khả năng tổn khác nhau của đồng, v.v) - Thời vụ Xã hội Tự nhiên Chính phủ, luật thương -Các cơ sở tài - Chấn động pháp, chính -An ninh lương thực nguyên thiên nhiên (trong tự sách công, các được cải thiện nhiên và môi động lực, các -Cơ sở thị trường -Công bằng xã hội trường, thị qui tắc được cải thiện - Đa dạng trường, chính Vật chất Tài chính trị, chiến -Sinh tồn hoặc tính -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên tranh,v.v) -Chính sách và bền vững nhiên thái độ đối với khu vực tư -Giá trị không sử dụng nhân của tự nhiên được bảo vệ Nguồn: DFID (2003) -Các thiết chế công dân, Sơ đồ 2.3: Khung lý thuyết chính trịvề và sinh kế bền vững của DFID kinh tế (thị Hình vẽ đã chỉ ra các loại tàitrường, sản sinh văn kế bao gồm: Nguồn nhân lực (H), hoá) nguồn lực xã hội (S), nguồn lực tự nhiên (N), nguồn lực vật chất (P) và nguồn lực tài chính (F). DFID’s Sustainable Livelihoods Guidance Sheets định nghĩa năm loại tài sản này như sau: Nguồn nhân lực đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tố này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục); TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Có nhiều tranh luận về định nghĩa nguồn lực xã hội nhưng theo DFID (1999), nguồn lực xã hội là các tiềm lực xã hội mà con người đưa ra để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình.