Chương 1: Giới thiệu bối cảnh và lý do nghiên cứu, bao gồm các thông tin liên quan đến vấn đề chính sách, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và 123doc 3 phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, cung cấp những định nghĩa và khung phân tích cơ bản về sinh kế từ những nghiên cứu trước. Chương 3: Tổng quan về chương trình tái canh cà phê ở tỉnh Đắk Lắk. Chương 4: Thực trạng sinh kế của người dân trong diện tái canh cà phê trên địa bàn Tây Nguyên đến năm 2020.
Chương 5: Khuyến nghị chính sách và kết luận. 123doc 4 CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các khái niệm Theo định nghĩa của Bộ phát triển Quốc tế Vương quốc Anh ( Department of International Development- DFID, 2000). “Sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết cho phương tiện sống.
Sinh kế bền vững là khi người dân có thể đối mặt và phục hồi được từ những căng thẳng và cú sốc của tự nhiên và xã hôi, và quan trọng hơn là người dân có thể duy trì và nâng cao năng lực và tài sản trong hiện tại và tương lại, trong khi đó không suy giảm các nền tảng nguồn lực tự nhiên của các thế hệ tiếp theo.” Tái canh là một thuật ngữ thường dùng trong nông nghiệp diễn tả cách thức canh tác của nông dân khi thay thế hoặc cải tạo cây trồng trong vườn bằng các biện pháp kỹ thuật khác nhau trên nền đất và cơ cấu cây trồng cũ. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tái canh hàm ý đến việc nhổ bỏ gốc cây trồng cũ, thay hoàn toàn bằng cây trồng mới. Theo đó, trồng mới tức là việc nhổ bỏ hoàn toàn gốc cà phê cũ, và thay thế bằng cây giống mới. Việc trồng mới đòi hỏi thời gian chăm sóc kéo dài, gồm 1-2 năm đầu chuẩn bị đất bằng cách nhổ bỏ toàn bộ thân rễ cây cũ, và luân canh bằng các loại hoa mầu ngắn ngày để hỗ trợ phục hồi dinh dưỡng cho đất, và thời gian kiến thiết cơ bản kéo dài khoảng 3 năm.2 Khung phân tích sinh kế Tác giả sử dụng khung sinh kế nông thôn bền vững của DFID (2004).
Đây là một khung phân tích hướng đến trọng tâm là con người, được thiết kế để hiểu rõ hơn về tính chất phức tạp của cái “nghèo”. Khung phân tích trình bày những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của con người bao gồm: 1) Bối cảnh dễ bị tổn thương; 2) Tài sản sinh kế; 3) Chính sách, thể chế, quá trình; 4) Chiến lược sinh kế; 5) Kết quả sinh kế, và mối quan hệ tương quan giữa chúng. Khung phân tích cho thấy cách thức con người có thể phát triển các chiến lược sinh kế thông qua việc kết hợp các nguồn lực sinh kế để tìm kiếm thu nhập trong những bối cảnh khác nhau. Những nguồn lực này bao gồm: nguồn lực tự nhiên, kinh tế, con người, vật chất và xã hội.
Các chiến lược sinh kế có thể là: thâm canh, mở rộng sản xuất, hay di cư sang vùng khác sinh sống. Khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững tập trung vào giải quyết 3 vấn đề chính sau: 123doc 5 Dựa trên cơ sở nào để đánh giá sinh kế của một người là bền vững hay kém bền vững? Những nguồn lực sinh kế, quá trình thể chế và chiến lược sinh kế nào quan trọng trong việc thúc đẩy hay cản trở những nhóm người khác nhau tìm kiếm được nguồn thu nhập bền vững? Hàm ý chính sách của việc ứng dụng các tiếp cận sinh kế bền vững là gì? Theo đó, sinh kế được hiểu đơn giản là phương tiện đảm bảo đời sống của con người, có thể được xem xét ở các mức độ khác nhau, trong đó phổ biến nhất là sinh kế quy mô hộ gia đình.1: Khung phân tích sinh kế bền vững Kết quả sinh kế Tăng số ngày lao động và thu nhập Bối cảnh dễ bị cho người dân tổn thương Tài sản sinh kế Giảm mức độ Chính sách, nghèo đói thể chế và quá Tăng sức khỏe và -Thiên tai H trình Chiến năng lực của người -Biến đổi khí hậu dân lược -Sụt giảm mạch Chính sách tín sinh Thích ứng sinh S N nước ngầm dụng hỗ trợ tái kế kế, tính dễ bị tổn canh; hỗ trợ thương và khả năng -Bệnh tật giống, tập huấn phục hổi kỹ thuật Sự bền vững về P F mặt tài nguyên thiên nhiên Chú thích: H= Vốn con người; S= Vốn xã hội; N= Vốn tự nhiên; P= Vốn vật chất; F= Vốn tài chính. (Nguồn: DFID, 2004 đã được tác giả dịch và diễn giải lại) 123doc 6 Trong khung phân tích sinh kế bền vững, việc phân tích sinh kế dựa trên mối liên hệ của các nhóm yếu tố sau: Bối cảnh dễ tổn thương Bối cảnh dễ tổn thương mô tả môi trường bên ngoài và những bất lợi mà ở đó con người ít có khả năng để đối phó. Xu hướng quan trọng cũng như là các cú sốc và yếu tố mùa vụ, điều mà con người vốn không thể kiểm soát được, có ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của họ và khả năng gia tăng tài sản.
Tuy nhiên, không phải tất cả các xu hướng và yếu tố thời vụ đều phải được cân nhắc ở khía cạnh tiêu cực. Sự dễ tổn thương nảy sinh khi con người phải đối mặt với những nguy hiểm hoặc cú sốc mà không có khả năng phản ứng một cách hiệu quả. Sự khác biệt giữa rủi ro và tính dễ bị tổn thương là về mức độ tương thích mang tính quyết định dối với việc đánh giá các nguyên nhân dẫn đến sự nghèo túng. Rủi ro là khả năng xảy ra cú sốc (bên ngoài) và áp lực cộng với mức độ nghiêm trọng tiềm tàng, trong khi đó tính dễ tổn thương là mức độ phơi nhiễm với rũi ro (chất độc hại, cú sốc) và sự không chắc chắn, và khả năng của hộ gia đình hoặc các cá nhân trong việc phòng ngừa, làm giảm bớt hoặc xử lý rủi ro.
Tài sản sinh kế Vì phương pháp tiếp cận sinh kế được xem là tiên quyết với mọi người, phương pháp này tìm kiếm đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về tiềm lực của con người (sau đây gọi là “tài sản” hoặc “vốn”). Quan trọng phải phân tích cách thức con người có thể cố gắng để chuyển đổi những tiềm lực này thành những kết quả sinh kế tích cực. Vì vậy, khung phân tích sinh kế bền vững xác định 5 loại tài sản hoặc vốn mà sinh kế được xây dựng nên, bao gồm vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính. Nguồn vốn con người bao gồm khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ.
Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó. Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác. 123doc 7 Nguồn vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, dưới dạng những mối quan hệ xã hội chính thể hoặc phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế. Nguồn lực xã hội có thể là các mối quan hệ xã hội, các hiệp hội, các tổ chức liên kết, các hợp tác xã.
Nguồn vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu, rừng, hệ động vật, thực vật,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ. Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập, phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ. Đây có thể làm khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, quy mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí.
Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế và những yếu tố tự nhiên này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người. Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế. Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở, cộng đồng hay cấp hộ gia đình. Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ.
Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả. Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình. Nguồn vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế. Các nguồn đó bao gồm tiền tiết kiệm, tiền mặt, nguồn thu nhập định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức và phi chính thức như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau.
Các chính sách, thể chế và quá trình chuyển đổi Tầm quan trọng của chính sách, thể chế và quá trình chuyển đỏi không thể không được nhấn mạnh, bởi vì chúng thể hiện ở tất cả mọi cấp độ, từ hộ gia đình đến các đấu trường 123doc 8 quốc tế, và ở tất cả các lĩnh vực, từ khu vực tư đến khu vực công. Những yếu tố này quyết định một cách hiệu quả việc tiếp cận đối với những loại vốn khác nhau, với những chiến lược sinh kế và đối với các tổ chức ra quyết định và các nguồn ảnh hưởng khác, điều kiện trao đổi giữa những loại vốn khác nhau và suất sịnh lợi cho bất kỳ chiến lược sinh kế sẵn có. Chính sách, thể chế và quá trình chuyển đổi có ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết mà con người có thể đạt được cảm giác hòa nhập cộng đồng và thoải mái.