CHƯƠNG 1: AN TOÀN THÔNG TIN DOANH NGHIỆP VÀ HỆ THỐNG SIEM 1. Tổng quan an toàn thông tin Trong thời đại công nghệ ngày càng phát triển như hiện nay thì việc bảo mật thông tin dữ liệu đang trở thành một thách thức không hề nhỏ đối với một cá nhân hay tập thể, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, chính trị quân sự hiện nay trên toàn thế giới. Các cuộc tấn công tinh vi đang trở thành mối đe dọa lớn đến an ninh mạng khiến môi trường mạng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn đối với các tổ chức, doanh nghiệp và cả người dùng cá nhân trên thế giới. Để bảo đảm tốt nhât cho thông tin doanh nghiệp, bạn cần biết rõ hệ thống thông tin của mình cần những gì để xác định cách triển khai.
Khi tiếp xúc với một mối đe dọa, bạn cần đánh giá được mối đe dọa để xác định chiến lược bảo mật tốt nhất. Điều này sẽ phụ thuộc vào mô hình doanh nghiệp của tổ chức bạn.1 Tổng quan về CIA Để hiểu rõ hơn và so sánh các loại mô hình kinh doanh khác nhau thì ta cần xác định những điểm chung phần lớn của các chương trình bảo mật. Khái niệm này sẽ được dùng để đánh giá mức an toàn của một hê thống và khái niệm đó là tam giác CIA (confidentiality, integrity, availability) đây cũng là nguyên tắc cốt lõi của chương trình bảo mật. Nếu không hiểu rõ về các khái niệm này và cách chúng liên quan với môi trường, bạn sẽ không thể nào đánh giá được nhu cầu của chương trình bảo mật của mình một cách chính xác.
Dưới đây là tóm tắt về các khái niệm này: Tính bí mật (Confidentiality): Đảm bảo tính bí mật của thông tin, tức là thông tin chỉ được phép truy cập (đọc) bởi những đối tượng (người, chương trình máy tính) được cấp phép. Cách phổ biến nhất để giữ bí mật thông tin là kiểm soát truy cập bằng cách đặt mật mã để mã hóa dữ liệu. Ví dụ: một giao dịch tín dụng qua Internet, số thẻ tín dụng được 15 gửi từ người mua hàng đến người bán, và từ người bán đến nhà cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng. Hệ thống sẽ cố gắng thực hiện tính bí mật bằng cách mã hóa số thẻ trong suốt quá trình truyền tin, giới hạn nơi nó có thể xuất hiện (cơ sở dữ liệu, log file, sao lưu (backup), in hóa đơn…) Tính toàn vẹn (Integrity): Trong an toàn thông tin, toàn vẹn có nghĩa rằng dữ liệu không thể bị chỉnh sửa mà không bị phát hiện.
Nó khác với tính toàn vẹn trong tham chiếu của cơ sở dữ liệu, mặc dù nó có thể được xem như là một trường hợp đặc biệt của tính nhất quán. Tính toàn vẹn bị xâm phạm khi một thông điệp bị chỉnh sửa trong giao dịch. Hệ thống thông tin an toàn luôn cung cấp các thông điệp toàn vẹn và bí mật Tính sẵn sàng (Availability): Mọi hệ thống thông tin đều phục vụ mục đích riêng của nó và thông tin phải luôn luôn sẵn sàng khi cần thiết. Điều đó có nghĩa rằng hệ thống tính toán sử dụng để lưu trữ và xử lý thông tin, có một hệ thống điều khiển bảo mật sử dụng để bảo vệ nó, và kênh kết nối sử dụng để truy cập nó phải luôn hoạt động chính xác.
Hệ thống có tính sẵn sàng cao hướng đến sự sẵn sàng ở mọi thời điểm, tránh được những rủi ro cả về phần cứng, phần mềm như: sự cố mất điện, hỏng phần cứng, cập nhật, nâng cấp hệ thống… đảm bảo tính sẵn sàng cũng có nghĩa là tránh được tấn công từ chối dịch vụ. Ví dụ: nếu server chỉ bị ngưng hoạt động hay ngừng cung cấp dịch vụ trong vòng 5 phút trên một năm thì độ sẵn sàng nó là 99.999% Ngoài những khái niệm đó là tam giác CIA thì ta còn có: Tính xác thực (authentication): Trong hoạt động tính toán, kinh doanh qua mạng và an toàn thông tin, tính xác thực là vô cùng cần thiết để đảm bảo rằng dữ liệu, giao dịch, kết nối hoặc các tài liệu (tài liệu điện tử hoặc tài liệu cứng) đều là thật (genuine). Nó cũng quan trọng cho việc xác nhận rằng các bên liên quan biết họ là ai trong hệ thống. Tính không thể chối cãi (Non-repudiation): tính không thể chối cãi có nghĩa rằng một bên giao dịch không thể phủ nhận việc họ đã thực hiện giao dịch với các bên khác.
Ví dụ: trong khi giao dịch mua hàng qua mạng, khi khách hàng đã gửi số thẻ tín dụng cho bên 16 bán, đã thanh toán thành công, thì bên bán không thể phủ nhận việc họ đã nhận được tiền, (trừ trường hợp hệ thống không đảm bảo tính an toàn thông tin trong giao dịch). Tính định danh (Identification): hành động của ngườisử dụng khi xác nhận một sự định danh tới hệ thống,ví dụ định danh thông qua tên (username) của cánhân. Tính kiểm toán (Accountability): sự xác định các hành động hoặc hành vi của một cá nhân bên trong hệ thống và nắm chắc được trách nhiệm cá nhân hoặc các hành động của họ 1.2 Các mối nguy hại trong an toàn thông tin Nhìn từ quan điểm an toàn th có vô số cách để tấn công, lấy cắp thông tin của một hệ thống. Lỗ hổng của ứng dụng, lỗ hổng dịch vụ trực tuyến (web, mail…), lỗ hổng hệ điều hành… Vì thế, rất khó để có thể thiết lập và duy trì bảo mật thông tin.
Rất nhiều các khai thác thành công đều bắt nguồn từ bên trong tổ chức (công ty). Theo những thống kê của Computer Security Institute, thì khoảng 60%-80% các hành động sử dụng sai mạng máy tính, phần mềm bắt nguồn từ bên trong các công ty. Vì thế, đào tạo nhận thức an ninh mạng cho các thành viên của công ty, thậm chí cho người quản trị là vô cùng quan trọng, đồng thời ta cũng phải tìm hiểu một số nguy ngại phổ biến trong an toàn thông tin: Lỗi và sự bỏ sót, cố tình bỏ qua Nguy cơ này được xếp vào hàng nguy hiểm nhất. Khi lập trình, các cảnh báo và lỗi do trình biên dịch đưa ra thường bị bỏ qua và nó có thể dẫn đến những sự việc không đáng có, ví dụ như tràn bộ đệm, tràn heap.
Khi người dùng vô tình (hay cố ý) sử dụng các đầu vào không hợp lý thì chương trình sẽ xử lý sai, hoặc dẫn đến việc bị khai thác, đổ vỡ (crash). Kỹ thuật lập trình đóng vài trò rất quan trọng trong mọi ứng dụng. Và lập trình viên phải luôn luôn cập nhật thông tin, các lỗi bị khai thác, cách phòng chống, sử dụng phương thức lập trình an toàn. 17 Một cách tốt nhất để phòng tránh là sử dụng chính sách “lease privilege” (có nghĩa là ít quyền hạn nhất có thể).
Người dùng sẽ chỉ được xử lý, truy cập đến một số vùng thông tin nhất định. Lừa đảo và lấy cắp thông tin Tưởng tượng rằng có những đồng nghiệp trong công ty đi làm không phải để làm việc, mà để lấy cắp những thông tin quan trọng của công ty. Chuyện này hoàn toàn có thể xảy ra, đặc biệt là những công ty làm việc về quân sự, cơ quan nhà nước…. Rất khó phát hiện kẻ tấn công từ bên trong.
Việc lấy cắp có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: lấy cắp văn bản in hay lấy cắp thông tin số, cung cấp thông tin nội bộ cho bên ngoài. Cách tốt nhất để phòng tránh nguy cơ này là: phải có những chính sách bảo mật được thiết kế tốt. Những chính sách có thể giúp người quản lý bảo mật thông tin thu thập thông tin, từ đó điều tra và đưa ra những kết luận chính xác, nhanh chóng. Khi đã có một chính sách tốt, người quản trị có thể sử dụng các kỹ thuật điều tra số (forensics) để truy vết các hành động tấn công.
Ví dụ như hình thức lấy cắp thông tin số, nếu một nhân viên truy cập vào khu vực đặt tài liệu bí mật của công ty, hệ thống sẽ ghi lại được thời gian, IP, tài liệu bị lấy, sử dụng phần mềm gì để truy cập, phần mềm bị cài đặt trái phép… từ đó, người quản trị sẽ chứng minh được ai đã làm việc này. Hacker (Tin tặc) Có rất nhiều cách hacker tấn công hệ thống. Mỗi kẻ tấn công đều có những thủ thuật, công cụ, kiến thức, hiểu biết về hệ thống. Và cũng có vô số các cuốn sách, diễn đàn đăng tải những nội dung này.
Trước tiên, hacker thu thập thông tin về hệ thống, nhiều nhất có thể. Càng nhiều thông tin, thì khả năng thành công của việc tấn công sẽ càng lớn. Những thông tin đó có thể là: tên ứng dụng, phiên bản ứng dụng, hệ điều hành, email quản trị… Bước tiếp theo là quét hệ thống để tìm lỗ hổng. Các lỗ hổng này có thể gây ra bởi ứng dụng xử lý thông tin hoặc 18 do hệ điều hành, hoặc bất kỳ thành phần nào có liên quan.
Từ đó, họ sẽ lợi dụng các lỗ hổng tìm được, hoặc sử dụng các tài khoản mặc định nhằm chiếm quyền truy cập vào ứng dụng. Khi đã thành công, hacker sẽ cài đặt các phần mềm, mã độc để có thể xâm nhập vào hệ thống trong các lần sau. Bước cuối cùng là xóa vết tấn công. Các trang mạng nổi tiếng như: The World Street Jounals, The NewYork Times mới đây đều công bố rằng mình đã bị hacker tấn công.
Để phòng tránh nguy cơ này, các ứng dụng tương tác với người dùng, dữ liệu cần phải giấu đi những thông tin quan trọng (nếu có thể) như phiên bản, loại ứng dụng, các thành phần kèm theo… Sử dụng các phần mềm phát hiện truy cập trái phép, rà soát hệ thống thường xuyên xem có phần mềm lạ không, cấu hình tường lửa hợp lý, chính sách truy cập của từng nhóm người dùng, quản lý truy cập… Lây lan mã độc Có rất nhiều loại mã độc có thể kể đến như: virus, sâu máy tính, Trojan horse, logic bomb… Nguy cơ do chúng gây ra là hoàn toàn rõ ràng, và vô cùng phong phú. Khi đã xâm nhập vào máy nạn nhân, mã độc có thể: mở cổng hậu (back door) để kẻ tấn công có thể truy cập và làm mọi việc trên máy nạn nhân; ghi lại thông tin sử dụng máy tính (thao tác bàn phím, sử dụng mạng, thông tin đăng nhập…). Đã có rất nhiều công ty bị cài đặt mã độc. Mới đây, Facebook cũng bị một nhóm hacker tấn công[2] do máy tính của một số nhân viên bị cài mã độc.