Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP SẤY BẰNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 1. Vị trí địa lý của Việt Nam và tiềm năng về tôm: a. Vị trí địa lý Việt Nam đối với ngành thủy sản: Là quốc gia ven biển có vị trí chiến lược ở khu vực Đông Nam Á và châu Á, Việt Nam có 2 vùng đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km , với bờ biển dài hơn 3.260 km cùng khoảng 4.000 đảo, quần đảo.
Việt Nam cũng có ngành thuỷ sản phát triển lâu đời, sở hữu nhiều chủng loại thủy sản đa dạng được phân bố dựa trên sự khác biệt về đặc điểm địa lý và khí hậu, trải dài từ Bắc đến Nam. Ngành nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, trong đó tôm chiếm một phần trong việc xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước: Việt Nam là nước sản xuất tôm hàng đầu thế giới với sản lượng 300.000 tấn mỗi năm, với hơn 600.000 ha nuôi tôm với hai loài tôm sú và tôm trắng. Đây là loài nuôi truyền thống của Việt Nam trong khi tôm trắng được nuôi ở nhiều tỉnh trong nước kể từ năm 2008. Các vùng nuôi chính tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
5 tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn nhất gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre và Kiên Giang. • Chế biến và xuất khẩu tôm: Ngành tôm đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam ra thế giới trong suốt 2 thập kỷ qua. Hàng năm, ngành tôm đóng góp khoảng 40- 45% tổng giá trị XK thủy sản, tương đương 3,5- 4 tỷ USD. Hiện tôm Việt Nam được xuất khẩu đến 100 quốc gia, trong đó 5 thị trường lớn nhất gồm: Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Với những nỗ lực không ngừng, Việt Nam đã trở thành nước cung cấp tôm đứng thứ hai thế giới với giá trị XK chiếm 13-14% tổng giá trị XK tôm của toàn thế giới. Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển ngành tôm, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm 95% sản lượng tôm và cũng là trung tâm của các nhà máy chế biến tôm. 1 Cho đến nay, có khoảng 200 nhà máy chế biến tôm được Ủy ban Châu Âu phê duyệt với các cuộc kiểm tra thực địa định kỳ ngay tại Việt Nam. Theo số liệu của tổng cục thuỷ sản, năm 2012 có 30 tỉnh thành nuôi tôm nước lợ, đã thả nuôi 657.523 ha, đạt sản lượng 476.424 tấn, tăng 0,2% diện tích và giảm 3,9% sản lượng.
Trong đó diện tích nuôi tôm sú 619.355 ha, sản lượng 298.607 tấn, giảm 7,1% và 6,5% sản lượng, tôm chân trắng 38.169 ha, tăng 15,5%, sản lượng 177.817 tấn, tăng 3,2% so với năm 2011. Diện tích nuôi tôm sú chiếm 94,1% diện tích nuôi tôm và 62,7% sản lượng, tôm chân trắng chiếm 5,9% diện tích và 27,3% sản lượng. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long chiếm diện tích và sản lượng lớn nhất với 595.477 tấn, trong đó tôm sú là 579.647 tấn, tôm chân trắng 15.529 cơ sở sản xuất tôm sú giống, sản xuất được hơn 37 tỷ con giống và có 185 cơ sở sản xuất tôm chân trắng giống với gần 30 tỷ con giống. Tính đến cuối tháng 11/2013, diện tích nuôi tôm nước lợ tại 30 tỉnh/thành phố đạt 652.612 ha, bằng 99,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Diện tích tôm sú đạt 588.894 ha, tôm thẻ chân trắng 63. Sản lượng thu hoạch đạt 475.854 tấn, trong đó, sản lượng tôm sú là 232.853 tấn, tôm chân trắng đạt 243. Giá trị xuất khẩu tôm 10 tháng năm 2013 đạt gần 2,5 tỷ USD, tăng gần 32,7% so với cùng kỳ năm 2012, chiếm 44% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước. Về sản xuất và cung ứng giống, năm 2013, cả nước có 1.722 cơ sở sản xuất giống tôm sú và 583 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng.
Sản lượng giống sản xuất ước khoảng 68,4 tỷ con giống, trong đó tôm thẻ chân trắng đạt 47,2 tỷ, tôm sú đạt 21,3 tỷ con. Trại sản xuất tôm nước lợ chủ yếu tập trung tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ, trong đó Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên chiếm khoảng 40% tổng số trại sản xuất tôm trên cả nước, cung cấp khoảng 70% sản lượng giống cho cả nước. 2 • Mô hình phát triển của ngành tôm: Xác định được giá trị kinh tế mang lại từ con tôm Việt, đầu năm 2018 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025. Theo đó, mục tiêu phát triển ngành tôm Việt Nam trở thành ngành công nghiệp sản xuất lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao chất lượng, giá trị, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm tôm Việt Nam, mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế đất nước.
Cụ thể, ngành tôm đang phát huy tiềm năng về điều kiện tự nhiên, các lợi thế về thị trường, công nghệ chế biến và kinh nghiệm của người dân để phát triển hiệu quả, bền vững, thích với biến đổi khí hậu. Đồng thời phát triển ngành tôm theo quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và các thành tựu khoa học kỹ thuật mang tính đột phá, thân thiện môi trường, phù hợp với đặc điểm sinh thái từng vùng để tăng năng suất, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có chất lượng cao. Kế hoạch hành động cũng nêu rõ phát triển sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm tôm Việt Nam; đầu tư phát triển ngành tôm theo tư duy hệ thống và chuỗi giá trị; trong đó doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt và là động lực của toàn chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ để tạo vùng sản xuất nguyên liệu tập trung quy mô lớn, tạo đầu mối để liên kết với các doanh nghiệp cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2017-2020, ngành tập trung sản xuất tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm tôm Việt Nam thông qua áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, tổ chức lại sản xuất; xây dựng nền tảng cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Theo đó, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ giai đoạn này 710.000ha, ước đạt sản lượng hơn 832.000 tấn, cho giá trị kim ngạch xuất khẩu 5,5 tỷ USD. Giai đoạn 2021-2025, đẩy mạnh nhân rộng ngành công nghiệp tôm công nghệ cao tại các vùng sản xuất trọng điểm; vùng nuôi tôm hữu cơ được áp dụng công nghệ để nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm dựa trên các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch 3 vụ kỹ thuật được đầu tư đồng bộ. Với tổng diện tích tôm nuôi đạt 750.000ha, sản lượng sẽ đạt hơn 1,1 triệu tấn, với giá trị kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD.
Để đạt được các chứng nhận này, các trang trại phải được xây dựng và vận hành dựa trên các tiêu chí: - Tuân thủ pháp luật - Bảo tồn môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học - Bảo tồn tài nguyên nước. - Bảo tồn sự đa dạng của các loài và quần thể tự nhiên - Sử dụng có trách nhiệm nguồn thức ăn và các nguồn tài nguyên khác. - Sức khỏe động vật (không sử dụng kháng sinh và hóa chất không cần thiết). - Trách nhiệm xã hội (ví dụ: không có lao động trẻ em, đảm bảo sức khỏe và an toàn của người lao động, tự do hội họp, quan hệ cộng đồng).
• Thị trường xuất khẩu tôm: Do các doanh nghiệp tôm là hội viên của VASEP đóng góp khoảng 90% xuất khẩu tôm từ Việt Nam, do đó VASEP thông qua Ủy ban Tôm đã hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Quản Lý Chất Lượng Nông Lâm Sản & Thủy Sản (NAFIQAD) để giải quyết các vấn đề của ngành bao gồm đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn và tuân thủ các quy tắc, quy định của pháp luật Việt Nam và thị trường nước ngoài. Nhờ sự phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, NAFIQAD và VASEP trong việc đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn và việc tuân thủ các quy tắc, quy định của pháp luật Việt Nam và thị trường nước ngoài và các chứng nhận cập nhật và tuân thủ nâng cao của Luật Lao động, Luật An toàn thực phẩm và các quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các công ty tôm đang áp dụng các biện pháp thực hành tốt trong cả trang trại và nhà máy chế biến các sản phẩm thủy sản trong đó có tôm. Ngoài ra, mỗi năm, các công ty phải được kiểm tra bởi các cơ quan kiểm tra độc lập, tổ chức chứng nhận quốc tế và cơ quan chức năng Việt Nam. 4 Để duy trì XK sang 100 thị trường và phát triển thị trường mới, các công ty tôm Việt Nam phải giữ uy tín bằng cách kiểm soát toàn bộ hệ thống để đáp ứng các yêu cầu và quy định ngày càng cao từ thị trường thế giới.
Một số ví dụ như: Đối với vấn đề lao động: giờ làm việc cho người lao động tại các công ty tôm Việt Nam được áp dụng theo Bộ luật Lao động 2012, Nghị định 45/2013 / NĐ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ. Luật Lao động tại các doanh nghiệp nuôi tôm: quy định rằng mọi công ty tôm phải khai báo và đăng ký Quy định làm việc với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội địa phương để bảo vệ quyền lợi của người lao động kể cả giờ làm việc và điều kiện làm việc. Việc tuân thủ ASC, Global GAP và các tiêu chuẩn quốc tế khác chứng tỏ rằng người nuôi và doanh nghiệp chế biến tôm Việt Nam không được phép sử dụng kháng sinh và các hóa chất không cần thiết trong chuỗi sản xuất của họ. Quan trọng nhất, chính quyền Việt Nam hiện có các quy định và chương trình kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất và kháng sinh trong nuôi trồng và chế biến thủy sản.
Tổng cục Thủy sản (D-Fish) và cơ quan quản lý nuôi trồng tại địa phương thường xuyên hướng dẫn và kiểm tra việc sử dụng kháng sinh và phát triển ngành tôm theo hướng liên kết chuỗi (với hợp đồng chặt chẽ, sản xuất có kiểm soát., Không sử dụng hoặc hạn chế sử dụng kháng sinh, ổn định tiêu thụ sản phẩm .), nuôi tôm có chứng nhận.