chương 1 cũng phân tích các đặc trưng của văn hoá tổ chức của hãng Korean Air. Những đặc trưng văn hoá tổ chức này sẽ được sử dụng làm nền tảng để lý giải các sai phạm của phi công Hàn Quốc ở chương 2 Chương 2 là góc nhìn những sai phạm của phi công từ văn hoá tổ chức – hãng Korean Air và văn hoá cá nhân – bản thân phi công. Ở góc nhìn từ phía hãng Korean Air, người viết đặt mục tiêu đảm bảo an toàn của các chuyến bay trong sự tương quan so sánh với các mục tiêu khác như nâng cao lợi nhuận, cải thiện dịch vụ, mở rộng mạng lưới đường bay… để chứng minh việc đảm bảo an toàn chưa được chú trọng đúng mức. Nhận thức về tầm quan trọng của mục tiêu đảm bảo an toàn dẫn đến nhận thức về việc xây dựng một chương trình đào tạo chuẩn mực, bài bản cho các phi công.
Về mặt tổ chức, hãng Korean Air giai đoạn này tuyển dụng một lượng lớn các cơ trưởng xuất thân từ không quân và nhanh chóng đưa họ lên vị trí cơ trưởng. Tuy nhiên kỹ năng và khuynh 13 hướng điều khiển máy bay một cách độc lập cùng phong cách chỉ huy độc đoán của quân đội không tương thích với khoang lái của máy bay thương mại dân dụng hiện đại. Ngoài ra, luận văn phân tích mức độ hãng Korean Air tuân thủ các quy định an toàn hàng không quốc tế và mức độ hợp tác với các tổ chức và hãng hàng không khác. Ở góc nhìn từ phía bản thân phi công, người viết đi từ nhận thức của người châu Á nói chung và Hàn Quốc nói riêng đối với khoa học kỹ thuật, trong đó có lĩnh vực hàng không dân dụng vốn là một lĩnh vực xuất phát từ phương Tây.
Bên cạnh đó là nhận thức về vai trò của cá nhân và tập thể - một chiều kích ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hàng không theo lý thuyết của Hofstede. Từ nhận thức về vai trò của cá nhân và tập thể sẽ ảnh hưởng đến văn hoá tổ chức giữa các phi công, cụ thể là khoảng cách quyền lực và phân chia trách nhiệm giữa các phi công cấp trên và cấp dưới trong khoang lái máy bay. Tiếp theo, luận văn xem xét quá trình tương tác của phi công Korean Air với các yếu tố: quy trình vận hành chuẩn, máy móc và chương trình lái tự động. Ngoài ra là các tương tác ngoài khoang lái - ở đây tập trung vào quá trình phối hợp của các phi công với bộ phận kiểm soát không lưu và bộ phận điều phối chuyến bay của hãng Korean Air.
Chương 3 đưa ra những biện pháp cải tổ của Korean Air về chương trình đào tạo phi hành đoàn, ngôn ngữ giao tiếp được chuẩn hoá theo hướng quốc tế và xây dựng văn hoá an toàn để giảm thiểu tối đa các sai phạm của đội ngũ phi công. Đồng thời cũng cho thấy được những ảnh hưởng của phương Tây đối với quá trình cải tổ này. Chương 3 là cơ sở tham khảo cho các hãng hàng không giải quyết các vấn đề tương tự như Korean Air. Trong chương 3, luận văn cũng đưa ra một số tai nạn do lỗi của phi công xuất phát từ yếu tố văn hoá của một số hãng hàng không như Đài Loan, Hà Lan, Columbia… Qua đó để thấy rằng ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá quốc gia, văn hoá doanh nghiệp đến quá trình làm việc của phi công không phải là trường hợp đơn lẻ của Hàn Quốc với Korean Air.
Và thông qua sự chuyển mình ấn tượng của Korean Air, các hãng hàng không khác có thể tìm được giải pháp để phòng tránh rủi ro, cũng như khắc phục sai phạm của các phi công nói riêng và đội ngũ nhân sự nói chung. 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Văn hoá và an toàn hàng không 1. Văn hoá và các thành tố của hệ thống văn hoá Theo nghĩa rộng, chúng ta có thể hiểu “Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người” (Nguyễn Văn Tiệp, 1995, tr.
Có nhiều cách phân chia văn hoá khác nhau, như trong dân tộc học người ta thường chia văn hoá ra thành văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, văn hoá xã hội. Theo lý thuyết hệ thống, mọi hệ thống đều bao gồm các yếu tố và các quan hệ giữa chúng; mỗi yếu tố của hệ thống đến lượt mình đều có thể là một hệ thống con - một tiểu hệ. Dựa trên lý thuyết về hệ thống, chúng ta có thể xem văn hoá như một hệ thống bao gồm bốn tiểu hệ. Tiểu hệ thứ nhất là văn hoá nhận thức, thứ hai là văn hoá tổ chức, thứ ba đó là văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và cuối cùng là văn hoá ứng xử với môi trường xã hội.
Vừa là hạt nhân, vừa là nền tảng quyết định đến bốn tiểu hệ văn hoá nói trên, đó là loại hình văn hoá. Với mỗi một tiểu hệ văn hoá - bằng tư duy lưỡng phân, Trần Ngọc Thêm (1999) tiếp tục phân tách mỗi tiểu hệ thành hai thành tố. Văn hoá nhận thức bao gồm nhận thức về vũ trụ - tự nhiên và về con người – xã hội. Văn hoá tổ chức đi từ cái nhỏ hơn là tổ chức đời sống cá nhân đến cái lớn, cái chung là tổ chức đời sống tập thể.
Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên bao gồm tận dụng môi trường tự nhiên như: lợi dụng sức nước, sức gió làm ra điện, cấy trồng trên ruộng đất tạo ra lương thực v.v… và đối phó với môi trường tự nhiên như: gió bão phải làm như thế nào, đất đai cằn cỗi phải khắc phục ra sao v.v… Tương tự như vậy, văn hoá ứng xử với môi trường xã hội cũng có tận dụng và đối phó. Tận dụng môi trường xã hội như việc tiếp thu và vận dụng các tri thức, thành tựu khoa học công nghệ. Đối phó cụ thể là cách con người phản ứng lại với những đối lực, những ảnh hưởng tiêu cực của các tác nhân trong xã hội. Nếu gộp chung ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã 15 hội thành một, chúng ta có thể chia văn hoá thành ba tiểu hệ lớn là văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức, văn hoá ứng xử.
Nội dung của luận văn phân tích các sai phạm của phi công dưới hai góc nhìn là từ hãng Korean Air và từ cá nhân các phi công. Mỗi góc nhìn như vậy cũng dựa trên ba thành tố của văn hoá là văn hoá nhận thức, tổ chức và ứng xử đã nêu ở trên. Văn hoá dân tộc và tính cách dân tộc Trước khi đề cập đến văn hoá dân tộc và tính cách dân tộc thì không thể không nhắc đến khái niệm “dân tộc”. “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt – văn hoá, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi riêng của mình” (Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lê, Nguyễn Văn Tiệp, 2000, tr.
Những yếu tố đặc trưng chủ yếu cho một dân tộc bao gồm: ngôn ngữ, lãnh thổ, cơ sở kinh tế, và quan trọng nhất là những đặc điểm sinh hoạt – văn hóa tộc người và ý thức tộc người. Trong nghiên cứu dân tộc học, khái niệm dân tộc là cơ bản nhất và dân tộc trong tiếng Việt có thể được hiểu theo hai nghĩa. Khi nói “dân tộc Việt Nam” là đề cập đến một cộng đồng người cùng chung sống trong một vùng lãnh thổ nhất định, có một nhà nước độc lập, có chủ quyền quốc gia có ngôn ngữ (chữ viết, tiếng nói) chung, có bản sắc văn hóa và sinh hoạt kinh tế. Nó ứng với thuật ngữ “nation” trong tiếng Anh.
Trong khi đó, dân tộc (tộc người) Ba Na, Ê Đê… là đang nói đến một tập đoàn người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và ý thức tự giác cộng đồng. Như vậy trường hợp này ứng với thuật ngữ “ethnic” trong tiếng Anh. Trong khuôn khổ luận văn, khi nhắc đến văn hoá dân tộc là đang đề cập đến nghĩa thứ nhất – nation. Văn hoá dân tộc là những thành tố văn hoá mang đặc trưng tộc người để phân biệt mình với các dân tộc khác.
Khi nhắc đến văn hoá dân tộc, nó không mang tính chung chung như văn hoá mà gắn liền với mục tiêu phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Từ đó, luận văn sử dụng định nghĩa của Đặng Nghiêm Vạn và các đồng sự (2000) khi 16 đề cập đến khái niệm văn hoá dân tộc (tộc người) là “tổng thể các yếu tố văn hoá mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người. Tức là những yếu tố văn hoá làm cho tộc người này khác với tộc người kia” (2000, tr. “Tính cách là tổng thể nói chung những đặc điểm tâm lý ổn định trong cách xử sự của một người, biểu hiện thái độ điển hình của người đó trong những hoàn cảnh điển hình” (Hoàng Phê, 2000, tr.
Theo Vũ Dũng (2009), “Tính cách dân tộc là những đặc điểm tâm lý bền vững của một dân tộc, được hình thành và biểu hiện trong hoạt động thực tiễn và trong giao tiếp” (tr. Định nghĩa trên cho thấy bền vững và thống nhất là hai nét đặc trưng của tính cách dân tộc. Theo nhiều nhà nghiên cứu, yếu tố sinh lý là nền tảng của tính cách nói chung và tính cách dân tộc nói riêng. Yếu tố này đề cập đến khía cạnh sinh lý thần kinh, nó tạo ra những phản xạ cảm xúc cho con người, chính vì vậy nó có mang tính bẩm sinh và di truyền (Hofstede, 1997, tr.
Yếu tố thứ hai góp phần hình thành nên tính cách dân tộc là khí hậu, điều kiện tự nhiên. Chẳng hạn, Hàn Quốc có địa hình đa phần là núi đá, mùa đông lạnh kéo dài khắc nghiệt nên tính cách của người Hàn có khuynh hướng chịu đựng, khắc kỷ, tính toán cho tương lai dài. Yếu tố thứ ba và cũng là yếu tố quan trọng nhất hình thành nên tính cách đó là các tác nhân văn hoá – xã hội. Con người là một thành viên của xã hội, mỗi người trong quá trình tồn tại và phát triển phải hoà nhập vào xã hội mình đang sống.
Đó chính là quá trình nhập thân văn hoá và xã hội hoá văn hoá cá nhân.