chương I, II phần Di truyền học, Sinh học 12 THPT. Khái niệm về năng lực 1. Các quan niệm về năng lực Trong Khoa sư phạm tích hợp [22, tr91], có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo Gerard và Roegies ( 1993), năng lực là một tập hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó tương đối thích hợp một cách tự nhiên.
Theo De Ketele (1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra. Theo Weitnert (2001) năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Khi nghiên cứu về năng lực, các tác giả Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về năng lực. theo Phạm Minh Hạc: năng lực là những đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó.
Nguyễn Cường và Bernd Meier (2012) cho rằng năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Cấu trúc của năng lực Năng lực được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau: - Dựa vào dấu hiệu tố chất tâm lí để định nghĩa thì “năng lực là một thuộc tính tích hợp nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”. - Dựa vào dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa thì “năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống”. 45] Một năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong bối cảnh thực và có nhiều biến động.
Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết các tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới. Có thể hình dung mối quan hệ như sau: Kiến thức x Kĩ năng x Thái độ x Bối cảnh = Năng lực Như vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để người học tìm ra các giải quyết tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có những cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp. Khả năng đáp ứng phù hợp với bối cảnh là đặc trưng quan trọng của năng lực.
Tuy nhiên, khả năng đó có được lại dựa trên sự 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng hóa và sử dụng cân nhắc những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể. Những kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực là những kiến thức mà người học phải năng động, tự kiến tạo, huy động được. Việc hình thành và rèn luyện năng lực phải được diễn ra theo đường trôn ốc, trong đó các năng lực có trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới và đến lượt mình kiến thực mới lại là nền tảng để hình thành những năng lực mới. Kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong một môi trường quen thuộc.
Kĩ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu biết, những trải nghiệm. giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi. 24] Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào đó. Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng về một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã hình thành năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm của bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi.
25] Vì vậy, về bản chất của đánh giá năng lực phải thông qua đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các loại tình huống phức tạp khác nhau. Các loại năng lực Học sinh phổ thông được hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên biệt Năng lực chung Các năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Học sinh được hình thành và phát triển các năng lực chung bao gồm: Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân - Năng lực tự học - Năng lực giải quyết vấn đề - Năng lực tư duy 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Năng lực tự quản lí Nhóm năng lực về quan hệ xã hội - Năng lực giao tiếp - Năng lực hợp tác Nhóm năng lực công cụ - Năng lực sử dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT) - Năng lực sử dụng ngôn ngữ - Năng lực tính toán Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên đặc tính di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Năng lực chuyên biệt Các năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn.
Ở trường THPT, các năng lực chuyên ngành Sinh học học sinh cần đạt được đó là: Năng lực kiến thức Sinh học ; năng lực nghiên cứu khoa học (năng lực quan sát, năng lực thực nghiệm); Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm. - Năng lực kiến thức sinh học bao gồm các kiến thức về các cấp độ tổ chức sống từ phân tử – tế bào – cơ thể – quần thể – quần xã – hệ sinh thái; kiến thức về cơ sở vật chất của các hiện tượng di truyền biến dị; kiến thức về tính quy luật của hiện tượng di truyền và ứng dụng di truyền học; các kiến thức về tiến hóa và sinh thái học. - Năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm: quan sát các hiện tượng trong thực tiễn hay trong học tập để xác lập vấn đề nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan thông qua nghiên cứu tài liệu, thực nghiệm; hình thành giả thuyết khoa học; thiết kế thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm; thu thập và phân tích dữ liệu; giải thích kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận. - Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm các kĩ năng chính như: kĩ năng sử dụng kính hiển vi; kĩ năng thực hiện an toàn phòng thí nghiệm; kĩ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng làm một số tiêu bản đơn giản; kĩ năng bảo quản một số mẫu vật thật.
Khái niệm về logic khoa học 1. Quan niệm về khoa học Khoa học là "hệ thống tri thức về mọi quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy". Hệ thống tri thức được nói đến ở đây là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học trong trường hợp này, được hiểu như một hệ thống các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại.
12] Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, được vạch theo một kế hoạch, có mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học. Nó là sự tổng kết từ những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành những cơ sở lí thuyết về logic tất yếu. Khi nói đến tri thức khoa học là nói đến những kết luận về quy luật tất yếu đã được khảo nghiệm và kiểm chứng. Quan niệm về logic khoa học Logic khoa học ở đây là nói về sự vận động tuần tự khách quan của đối tượng mà khoa học nghiên cứu đang diễn ra trong thực tại, không phụ thuộc vào nhận thức của con người.
Theo quan điểm của logic biện chứng thì thực tại có cấu trúc vật chất và vật chất được tạo nên bởi nhiều cấp bậc khác nhau, mỗi cấp bậc là một hệ thống. Cấp bậc cao hơn được tạo nên bởi nhiều cấp bậc dưới nó. Mặt khác vật chất luôn tương tác với nhau làm cho vật chất không đứng yên, luôn vận động trong đó cá dạng vận động theo quy luật nhất định. Khi vận động nó được biểu hiện ra bên ngoài mà con người có thể nhận thức được.
Từ biểu hiện của vận động, con người đi sâu vào bản chất bên trong đó theo trình tự như thế nào, hiểu được như vậy mới làm chủ được thiên nhiên, nắm vững logic vận động bên trong là nắm được nội dung sinh học. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, logic khoa học là sự vận động theo trình tự chặt chẽ, do tổng hòa các mối quan hệ trong thực tại quy định, nó tồn tại khách quan với nhận thức của con người, nhưng con người cần hướng tới nhận thức đó.