Chương 1: Cơ sở lý luận về quyề n thành lâ ̣p và gia nhâ ̣p công đoàn của ngƣời lao đô ̣ng Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền thành lâ ̣p và gia nhâ ̣p công đoàn của ngƣời lao đô ̣ng ở Viê ̣t Nam Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyề n thành lập và gia nhập công đoàn của ngƣời lao đô ̣ng. 5 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP CÔNG ĐOÀN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm quyền thành lập và gia nhập công đoàn của ngƣời lao động 1. Lịch sử của tổ chức công đoàn Cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra ở Anh vào giữa thế kỷ 18, sau đó tiếp tục ở nhiều nƣớc khác. Cuộc cách mạng này bắt đầu từ việc phát minh và sử dụng các máy kéo sợi, máy dệt và đặc biệt là máy hơi nƣớc…chuyển lao động bằng tay sang lao động bằng máy đƣa năng suất lao động lên cao.
Từ cuộc cách mạng công nghiệp, giai cấp công nhân và giai cấp tƣ sản đã ra đời. Hai giai cấp này đối lập nhau về quyền lợi. Do bị bóc lột, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống giai cấp tƣ sản từ lẻ tẻ, rời rạc, tự phát dần dần thành cuộc đấu tranh của cả một phân xƣởng, một nhà máy, một ngành, một địa phƣơng. Trong đấu tranh, công nhân nhận thấy cần tập hợp lực lƣợng, thống nhất hành động mới bảo vệ đƣợc quyền lợi của mình.
Do đó đã hình thành một tổ chức để đáp ứng yêu cầu ấy - đó là Công đoàn. Nhƣ vậy nguyên nhân chủ yếu để công đoàn ra đời là do quan hệ lao động mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ thợ và để tập hợp bảo vệ quyền lợi của công nhân, công đoàn ra đời là tất yếu khách quan. Công đoàn ra đời đầu tiên ở Anh vào đầu năm 1868, Pháp năm 1884, Đức năm 1945…[6]. Dƣới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng đƣợc củng cố.
Để truyền bá Chủ nghĩa Mác vào sâu rộng trong giai cấp công nhân, Mác và Ăng-gen đã đứng ra thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (tức Quốc tế thứ nhất) vào ngày 28/09/1864 ở Luân Đôn. Quốc tế thứ nhất đồng thời làm nhiệm vụ Quốc tế công đoàn, vạch ra cƣơng lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho các yêu cầu cụ thể của công đoàn. Phong trào đấu tranh của công nhân và công đoàn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là sau Quốc tế II đƣợc thành lập ngày 14/05/1889 và trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ I tháng 08/1914. Thắng lợi Cách mạng tháng 10 Nga 1917 đã làm vang dội thế giới, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga, thành lập nhà nƣớc vô sản đầu tiên trên thế giới, phong trào công đoàn thế giới bƣớc sang giai đoạn mới.
Trong thời kỳ này, công đoàn Xô Viết có một vị trí cực kỳ quan trọng trong tổ chức công đoàn quốc tế. 6 z Từ sự thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, phong trào công nhân và công đoàn đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nƣớc khác trên thế giới nhƣ Ý, Hung-ra-ri. Sự ra đời của quốc tế III (1919) và Công hội Đỏ (RILU) năm 1921 đã đánh dấu một bƣớc tiến mới của công đoàn thế giới. Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hệ thống các nƣớc Xã hội chủ nghĩa ra đời thể hiện sự cân bằng lực lƣợng giữa Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa tƣ bản.
Trong thời kỳ này, nhiều tổ chức công đoàn ra đời tiêu biểu nhất là Liên hiệp công đoàn thế giới tháng 10/1945 (Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này từ năm 1949); Liên hiệp Quốc tế các công đoàn tự do (1949). Những tổ chức công đoàn mang tính quốc tế này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, khi chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu sụp đổ, phong trào công đoàn thế giới đã có những khủng hoảng về kinh nghiệm, mô hình tổ chức, nội dung và phƣơng pháp hoạt động. Ở các nƣớc Xã hội chủ nghĩa còn lại nhƣ Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, công đoàn dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền đang tiến hành đổi mới để phù hợp với tình hình mới.
Các học giả nghiên cứu về công đoàn đã đƣa ra các quan điểm của mình về vấ n đề này. Cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (1984) của Sidney và Beatrice Webb có quan điểm rằng công đoàn là “một hiệp hội của những ngƣời làm công ăn lƣơng có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mƣớn họ” thắng thế. Có một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc Đại Lợi rằng công đoàn là “.một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những ngƣời làm thuê, hoạt động cơ bản là thƣơng lƣợng về lƣơng bổng và điều kiện thuê mƣớn cho các thành viên của nó”. Nhƣ nhà sử học R.A Leeson, trong cuốn United We Stand (Tạm dịch: Chúng ta hãy đoàn kết đứng lên) (1971) có viết: “Hai quan điểm mâu thuẫn nhau của phong trào công đoàn đấu tranh với nhau để giành ƣu thế trong thế kỷ mƣời chín: một bên là truyền thống phƣờng hội nghiêm ngặt có tính phòng thủ truyền lại qua các câu lạc bộ thợ thuyền và các hội bạn thợ.
bên khác là xu thế bành trƣớng có tính tấn công nhằm thống nhất toàn thể “ngƣời lao động nam cũng nhƣ nữ để thiết lập một trật tự mới.” Kinh tế gia thế kỷ XIX Adam Smith đã lƣu ý sự bất cân đối về quyền lợi của ngƣời lao động so với của ngƣời sở hữu (hay “ông chủ”). Trong chƣơng 8, tập I cuốn Của cải của các Quốc gia, Ad.Smith viết: Hiếm khi ta nghe nói đến sự liên 7 z hiệp của các ông chủ, mà thƣờng nghe đến hội của những ngƣời làm công. Nhƣng ai đó dựa trên điều này mà tƣởng tƣợng rằng các ông chủ hiếm khi tập hợp lại thì kẻ đó thật dốt nát, cả về thế giới lẫn về vấn đề này. Các ông chủ ở mọi lúc mọi nơi đều liên hiệp với nhau một cách ngấm ngầm nhƣng khƣ khƣ bất biến, hòng không nâng lƣơng của nhân công lên trên mức hiện hữu…[Khi những ngƣời lao động tập hợp lại,] các ông chủ… không ngừng làm ầm ĩ lên, kêu gọi sự hỗ trợ của chính quyền dân sự, và đòi thực thi nghiêm khắc những luật lệ ngặt nghèo đƣợc ban hành nhằm chống lại sự liên hiệp của những ngƣời đầy tớ, ngƣời làm công và thợ thuyền.
Nhƣ vậy điều đó cho thấy, công đoàn là bất hợp pháp trong nhiều năm ở hầu hết các nƣớc. Đã có những hình phạt khắt khe đối với tổ chức công đoàn. Mặc dù thế, công đoàn vẫn đƣợc thành lập và dần dần có đƣợc sức mạnh chính trị, kết quả cuối cùng là một bộ luật lao động không chỉ hợp pháp hoá những nỗ lực tổ chức công đoàn mà đã luật hoá mối quan hệ giữa giới chủ với những ngƣời làm thuê đƣợc tổ chức thành những công đoàn. Quyền gia nhập công đoàn đã đƣợc nhắc đến trong điều 23 phân đoạn 4 của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và đƣợc khẳng định lại trong điều 20 phân đoạn 2 rằng “Không được ép buộc bất cứ ai trong việc tham gia vào một hiệp hội”.
Việc cấm đoán một ngƣời không đƣợc tham gia hay thành lập công đoàn, cũng nhƣ ép buộc một ngƣời làm việc ấy, dù là do chính phủ hay doanh nghiệp thực hiện, đều bị coi là hành vi xâm hại nhân quyền. Những lý lẽ tƣơng tự cũng đƣợc đặt ra khi ngƣời thuê mƣớn phân biệt đối xử dựa trên việc có tham gia công đoàn hay không. Mục đích của ngƣời chủ, thƣờng là kế t hơ p̣ với sự hỗ trợ của các lực lƣợng bên ngoài, nhằm cấm đoán việc công nhân của mình tham gia công đoàn. Trải qua một thời gian dài phát triển, nhận thức về công đoàn ngày càng hoàn thiện hơn và đa số các quan điểm hiện nay thống nhất rằng: Các công đoàn có thể tổ chức dựa trên một nhóm công nhân có cùng kỹ năng (công đoàn nghề nghiệp), những công nhân thuộc các ngành nghề khác nhau (công đoàn toàn thể), hay các công nhân trong toàn bộ một ngành công nghiệp (công đoàn ngành).
Các công đoàn này thƣờng phân chia theo địa phƣơng và thống nhất với nhau thành các nghiệp đoàn quốc gia. Các nghiệp đoàn này lại liên kết với nhau thành các tổ chức quốc tế. Hiện nay, có một số tổ chức công đoàn lớn nhƣ, Liên hiệp công đoàn thế 8 z giới (WFTU), thành lập 1945; Tổng công đoàn quốc tế (ITUC) là trung tâm công đoàn lớn nhất thế giới, ra đời năm 2006; Liên hiệp các công đoàn ngành toàn cầu (GUFs) [34]. Ở nhiều quốc gia, công đoàn có tƣ cách pháp nhân đƣợc ủy quyền thƣơng lƣợng với giới chủ thay cho các công nhân mà công đoàn đại diện.
Công đoàn có một số quyền quan trọng nhƣ quyền thƣơng lƣợng tập thể với ngƣời thuê mƣớn lao động về lƣơng bổng, giờ làm cũng và các điều kiện thuê lao động khác. Việc hai bên không thể đạt đến một thỏa thuận nào đó có thể dẫn đến những hành động gây áp lực và đỉnh điểm là đình công. Trong một số trƣờng hợp cực đoan, việc đình công có thể là hành vi bất hợp pháp. Bên ca ̣nh đó mô ̣t số công đoàn có thể không có quyền đại diện hợp pháp cho công nhân hoặc quyền này bị hạn chế.
Các công đoàn có thể tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị hay xã hội rộng lớn hơn. Chủ nghĩa công đoàn xã hội bao gồm nhiều công đoàn có thể dùng sức mạnh quốc tế để ủng hộ cho những chính sách và pháp luật có lợi hơn cho ngƣời lao động. Hiện nay, trong cơ chế thị trƣờng đang diễn ra sôi động trên phạm vi toàn thế giới, các tập đoàn tài chính quốc tế , các công ty đa quốc gia đã áp dụng chính sách đầu tƣ linh hoạt và phƣơng pháp quản lý mềm dẻo , đồ ng thời tăng cƣờng bóc lột công nhân. Thêm vào đó là tình hình việc làm của công nhân và ngƣời lao động trên thế giới đang trở thành vấn đề lớn.
Vì vậy, công đoàn thế giới cần phải đổi mới, kiện toàn tổ chức công đoàn phải phấn đấu vƣơn lên không ngừng vì sự nghiệp hoà bình thế giới, ổn định kinh tế xã hội và bảo vệ ngƣời lao động. Mục đích và vai trò của Công đoàn Thứ nhất, mục đích của Công đoàn.