Chương 1: Những vẫn đề lý luận về quyền nuôi con nuôi của người đồng tinh. Chương 2: Thực trạng về quyền nuôi con nuôi của người đồng tính theo pháp luật Việt Nam Chương 3: Quan điểm và kiến nghị về quyền nuôi con nuôi của người đồng tính tại Việt Nam. Chuong 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE QUYEN NUOI CON NUOI CUA NGUOI DONG TINH 1. Khái quát chung về người đồng tính và quyền của người đồng tính 1.
Khái niệm người đồng tính Thuật ngữ “đồng tính” hay viết tắt của cụm từ “đồng tính luyến ái” (homosexual) xuất hiện ngày càng nhiều và phô biến. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law), sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul của Gustav Jager, Psychopathia Sexualis (1886) cua Richard von Krafft — Ebing, thuat ngữ này cũng được dùng đề phân biệt với người dị tính và song tính. Hiện tượng đồng tính luyến ái là sự hấp dẫn tình cảm, tình dục và cảm xúc giữa những người cùng giới tính - nam với nam, nữ với nữ. Những người đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh được gọi là gay, còn những người đồng tính luyến ái nữ là les hay còn goi la lesbian.
Có rất nhiều quan điểm liên quan đến đồng tính, song tính,. cho rằng đây là bệnh, là điều trái với tự nhiên, có thể chữa trị được. Tuy nhiên cũng có rất nhiều quan điểm cho rằng đồng tính là điều tự nhiên của xã hội. Đề hiểu rõ hơn về đồng tính, cần tiếp cận người đồng tính dưới nhiều góc độ khác nhau như y học, xã hội, khoa học.
Dưới góc độ y học: Người đồng tính vẫn mang giới tính nam hoặc nữ và vẫn xem mình là nam hoặc nữ nhưng chỉ bị hấp dẫn bởi những người cùng giới tính. Trong một thời gian khá dai nhiều ý kiến cho rằng đồng tính là bệnh hoạn, có thé chữa trị bằng y học là một quan điểm sai lầm, bởi người đồng tính vẫn hoàn toàn mang nhưng đặc điểm sinh học như những người dị tính khác, không có sự khiếm khuyết nào về cấu tạo sinh học. Dưới góc độ xã hội: Với cách tiếp cận xã hội học thì đồng tính luyến ái có thể được coi là một hiện tượng lệch chuẩn. Điều này xuất phát từ việc đồng tính xuất hiện làm phá vỡ những quan điểm đạo đức xã hội, quan điểm tôn giáo cũng như pháp luật trước đó của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trái với những chuẩn mực xã hội đã tồn tại trong suốt thời gian đài trước đó.
Tuy nhiên, sau một thời gian dài, hiện tượng đồng tính luyến ái đã thay đổi quan niệm của rất nhiều quốc gia, dần dần được chấp nhận, được coi như người bình thường, một giới tính khác trong xã hội, thậm chí là được pháp luật chấp nhận và bảo vệ. Dưới góc độ khoa học: Để hiểu biết rõ hơn về đồng tính, người đồng tính cũng như các thuật ngữ khác có liên quan dưới góc nhìn khoa học, trước hết cần làm rõ các thuật ngữ về tính đục và xu hướng tính dục. Từ những năm 1970, Hội đồng giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ (Sexuality Information and Education Council of the United States - SIECUS) da dua ra dinh nghia hién dai vé tinh duc nhu sau: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đản bà và biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục.
Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người vả do đó tác động trở lại xã hội. Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (viết tắt APA) thì: Xu hướng tính dục là một sự hap dẫn có tính bền vững về cảm xúc hoặc về mặt tình dục của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới. Xu hướng tính dục khác với ba cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới và thê hiện giới.
Có các xu hướng tinh dục thường gặp là: - DỊ tính - Heterosexual là hiện tượng một người bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới tính, cho rằng mình có giới tính trùng với giới tính sinh học mà mình được sinh ra. Đây là xu hướng tính dục dễ nhận thấy nhất, chiếm đông đảo, đa số trong xã hội. - Đồng tính - Homosexual là hiện tượng một người bị hấp dẫn với người cùng giới tính với mình. - Song tính - Bisexual là hiện tượng một cho rằng mình có giới tính trùng với giới tính sinh học mà mình được sinh ra và bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ.
- Vô tính- asexual là hiện tượng một người không bị hap dẫn bởi bất kì ai, không bị hấp dẫn bởi bất kì giới tinh nào. Hiện nay, do người dị tính chiếm đa số trong xã hội, đã hình thành nên tư tưởng về mô hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam và một nữ chính là mô hình gia đình kiểu mẫu của xã hội, trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thé giới. Do đó, “người đông tính là người bị hấp dẫn bởi một người có cùng giới tính với mình”. Những người đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh được gọi là gay.
Còn những người đồng tính luyến ái nữ là les hay còn gọi là lesbian. Tuy nhiên, rất khó để nhận biết một người thuộc xu hướng tính dục nào, bởi không phải xu hướng nào cũng được biểu lộ ra, thậm chí là thường bị giấu kín. Xuất phát từ sự “khác biệt” của người đồng tính với người dị tính, người đồng tính chiếm số ít trong xã hội, dé bị kì thị, xa lánh nên họ thường không muốn công khai. Bản thân người đồng tính cũng rất khó khăn để chấp nhận, để hiểu bản thân của mình, nhiều người cần rất nhiều thời gia thậm chí là đến giai đoạn trưởng thành mới có thể nhận định được đầy đủ về xu hướng tính dục của mình.
Trong quá trình tìm hiểu bản thân, một số người đã có găng đề thay đổi xu hướng tính dục của bản thân từ đồng tính sang đị tính nhưng không thành công. Cũng theo quan điểm của Hiệp hội tâm lý học Mỹ (American Psychological Association - APA) đồng tính hoàn toàn không phải là một sự rối loạn tâm sinh lý mà là một hiện tượng sinh học tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung trong giai đoạn đầu ở thai nhi. Theo đó, có rất nhiều yếu tô tác động ảnh hưởng đến xu hướng tính dục của một người như các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội. Tuy nhiên, yêu tố tâm lý, xã hội chỉ là một trong số các yếu tố phụ góp phần thể hiện rõ xu hướng của người đồng tính, yếu tố quyết định xu 10 hướng tính dục của một cá nhân vẫn là yếu tố sinh học, điều này đồng nghĩa với việc đồng tính là một bản chất tự nhiên, vốn có của một người khi mà họ được sinh ra, người đồng tính không thể lựa chọn được xu hướng tính dục của mình.
Năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu, với 58% phiếu thuận và 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng), đến năm 1990 Tổ chức y khoa thế giới cũng đã công nhận đồng tính không phải là một loại bệnh. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, một bộ phận không nhỏ vẫn coi đồng tính là một loại bệnh, có thé thay đổi được xu hướng tính dục này băng các biện pháp y học. Một bộ phận khác cho rằng đồng tính do tác động về tâm lý, môi trường gây ra nên họ tìm cách khắc phục bằng việc để người đồng tính yêu, kết hôn người khác giới. Song song với đó là những quan điểm về đạo đức và tôn giáo đã gây nên cũng áp lực không hè nhỏ đối VỚI người đồng tính, khiến họ mệt mỏi, trầm cảm, thậm chí có thê dẫn đến hành vi tự tử.
Chính những áp lực này khiến cho người đồng tính không dám thể hiện bản thân, công khai xu hướng tính dục của bản thân, khiến họ cảm thấy sợ, tự phủ nhận bản thân, không thé chap nhận được xu hướng tính dục của chính bản thân mình. Rất khó khăn để người đồng tính công khai xu hướng tình dục của bản thân. Việc công khai của người đồng tính cho thấy họ muốn thể hiện xu hướng tính dục của bản thân với cộng đồng, xã hội, dù cho họ có thê gặp nhiều vấn đề về sự kì thị, bị bạo hành, ngược đãi,. Điều này cũng thể hiện người đồng tính muốn được xã hội công nhận xu hướng tính dục của mình, muốn được xã hội công nhận quyền, bảo vệ quyền, và hơn hết là khao khát được thực hiện quyền của chính người đồng tính.
Khái niệm quyền của người đồng tính trong hôn nhân và gia đình 1. Quyén của người đông tính a) Quyên của người đông tính có bản chất là quyên tự nhiên của con người Trước hết, quyền tự nhiên là những quyền được cho là quan trọng cho mọi con người, loài động vật hoặc thậm chí là mọi sinh vật. Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng quyền con người là những gì bâm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đêu được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia 11 đình nhân loại. Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tô chức, cộng đồng hay nhà nước nảo [5, tr.
Theo Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776, cũng như Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 các quyền tự nhiên được bao gồm: "quyền sông, tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Cũng trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đăng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.