CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE NHÓM NGƯỜI DE BỊ TON THƯƠNG VA QUYEN NHÂN THAN CUA NHÓM NGƯỜI DE BỊ TON THUONG 1.1 Khái quát về nhóm người dễ bi tốn thương trong xã hội 1.1 Khái niệm nhóm người dé bị tốn thương Khái niệm “dé bị tổn thương” là một khái niệm mở, khó dé định nghĩa chính xác và có thé thay đổi theo ngữ cảnh. Bên cạnh đó, sự dé bị ton thương có thê phát sinh từ tự nhiên và không thể tránh khỏi hoặc nó có thể được tạo ra và duy trì bởi sắp đặt của cá nhân và/hoặc xã hội. Hiện nay, chúng ta cũng chưa có định nghĩa chính thức nào về khái niệm “nhóm người dễ bị ton thương” dù cho nó được su dụng phổ biến trong các văn kiện pháp lý quốc tế và trong các hoạt động nghiên cứu thực tiễn về quyền con người trên thé giới. Tuy nhiên, có thé hiểu khái niệm này như sau: Nhóm người dé bị ton thương là “những nhóm, cộng đồng có vị thé về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác”[12].
+ Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ và Trung tâm Hỗ trợ phát triển cộng đồng LIN đã xác định những nhóm người sau trong địa phận thành phố Hồ Chí Minh là những nhóm dé bị tổn thương: Người khuyết tật (bao gồm cả khuyết tật về thê chất và tâm thần); người lao động nhập cư, đến từ những vùng nông thôn của Việt Nam (và các thành viên trong gia đình đi cùng); người nghèo thành thị; người sống với HIV/AIDS; người dân tộc thiểu số; người hành nghề mại dâm; nạn nhân buôn bán người. + Theo Luật quốc tế về quyền con người, nhóm người dễ bị tôn thương bao gồm: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người sống chung với HIV, người di tản hoặc người tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người lao động di trú, người thiêu sô (vê dân tộc, chủng tộc, tôn giáo.), người bản dia, nan nhân chiến tranh, những người bị tước tự do. Và tùy từng thời điểm, danh sách này có thé được bổ sung, bao gồm những nhóm người gặp nguy cơ cao về quyền COn người ở trong nhiều hoàn cảnh, bối cảnh (xét cả trên phạm vi quốc tế, khu vực, quốc gia, ở trong gia đình, nơi làm việc hoặc ngoài xã hội). Do thời gian và kiến thức còn hạn chế, trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ đề cập đến quyền của hai nhóm người là phụ nữ và trẻ em.
Căn cứ theo điều kiện về địa lý, kinh tế — xã hội, trình độ phát triển dân trí hay do phong tục tập quán từng địa phương. mỗi một quốc gia đều xác định lứa tuổi của trẻ em dé phân biệt với người trưởng thành. Nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phương Tây thường lay mốc dưới 18 tuổi để xác định ranh giới giành cho trẻ em. Theo Điều 1 Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc: “Tré em có nghĩa là bat kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dung với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hon”.
Ở Việt Nam, trong Dân số học thường lay mốc 15 tuổi dé phân biệt trẻ em với tuôi trưởng thành. Tuy nhiên, theo Điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định như sau: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam đưới 16 tuổi”. Và Bộ luật Dân sự quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”.
Như vậy, giữa các văn bản luật chưa có sự thống nhất giữa người chưa thành niên và trẻ em. Khái niệm trẻ em có thé bao gồm cả người chưa thành niên hay cũng có thé hiểu người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em.2 Đặc điểm của nhóm người dễ bị tốn thương là phụ nữ và trẻ em Từ hàng nghìn năm qua, phụ nữ và trẻ em luôn là những nhóm người yếu thé, dé bị tôn thương và chịu nhiều thiệt thoi. Bên cạnh đó, họ phải chịu đựng sự bat bình đăng và phân biệt đối xử ở nhiều nơi, thậm chí ngay trong gia đình mình. Phụ nữ và trẻ em không chỉ giống nhau ở tính chất đặc biệt dé bi ton thương mà còn có mỗi quan hệ khăng khít về nhiều mặt.
Từ định nghĩa về nhóm người dễ bị ton thương có thé đưa ra các đặc điểm của nhóm người dễ bi tổn thương là phụ nữ va trẻ em như sau: - Có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn: Mặc dù luật quốc tế và quốc gia nói rất rõ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là nghiêm cam nhưng trên thực tẾ sự phân biệt đó vẫn tôn tại. “Chúng ta đều biết rằng phụ nữ chiếm khoảng một nửa dân số thế giới tuy nhiên chỉ từ 5-10% trong số họ có vị trí lãnh đạo. Phụ nữ đóng góp 70% cho nền kinh tế địa phương và quốc gia nhưng thu nhập của họ lại thấp hơn 1/10 thu nhập của toàn thế giới, 2/3 trong số 960 triệu người mù chữ trên thế giới là phụ nữ” [15]. Trẻ em là đối tượng yếu đuối về mặt thé chất do chưa phát triển hoàn thiện.
Đa số trẻ em chưa có sức lao động và tài sản riêng nên tất yếu phải lệ thuộc về kinh tế vào các thành viên trong gia đình mà trước tiên là cha mẹ, ông bà, anh chị. - Do thể chất chưa phát triển hoặc do giới tính tự nhiên: Do đặc điểm tự nhiên, phụ nữ thường có thé chất yếu hơn nam giới. Bên cạnh đó, phụ nữ phải gánh vác chức năng sinh nở — chức năng hàm chứa rất nhiều rủi ro về sức khỏe. Bởi những đặc điểm sinh học về giới có thể mang lại cho phụ nữ nhiều khó khăn nên họ cần được bảo vệ sức khỏe sinh sản; phòng chống buôn bán phụ nữ, phòng chống bạo lực giới; đảm bảo sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính tri.
Trẻ em là chủ thé còn non not cả về thé chất và tinh thần nên trẻ em cần được bảo vệ toàn điện cả về tính mạng sức khỏe và tình cảm, đạo đức. - Có nguy cơ cao bị bỏ quên hay bị coi thường, bị vi phạm các quyền con người, cần được bảo vệ đặc biệt so với nhóm cộng đồng khác: + Nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại tư tưởng “trọng nam khinh nữ” dẫn đến việc bạo hành đối với phụ nữ và trẻ em nữ trong gia đình. Hoặc tư tưởng “gia trưởng” khiến cho những người đàn ông trong gia đình mặc nhiên cho mình có “quyền đối với vợ con” nên muốn làm gì thì làm. Ngoài ra, việc cha mẹ thường xuyên trừng phạt, đánh đập con cái một cách dã man đôi khi cũng là do hiểu sai ý nghĩa câu nói của cha ông đã dạy: “thương cho roi cho vọt”.
Hiểu sai lầm trong cách dạy dé và giáo dục trẻ em cũng như sự thiếu hiểu biết về pháp luật và bạo lực gia đình từ các thành viên trong gia đình khiến phụ nữ và trẻ em có nguy cơ cao bị vi phạm các quyền con người và cần được bảo vệ đặc biệt so với nhóm cộng đồng khác. Theo một báo cáo của Tổ chức UNICEF, có hơn 2,6 triệu trẻ em ở Việt Nam cần được bảo vệ đặc biệt. Trong số đó có trẻ em bị lạm dụng, bị bóc lột và buôn bán vì mục đích tình dục; trẻ em lang thang cơ nho; trẻ em tat nguyễn; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ mô côi; trẻ em bị ruồng bỏ; trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và trẻ em sống trong cảnh nghèo đói. Hoàn cảnh của các em đều hết sức nghiệt ngã, rất nhiều em phải tự bươn trải dé kiếm sống.
Một số em bị bắt lao động, còn một sỐ khác sống lang thang trên các đường phó - chính tình cảnh đó khiến cho các em có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, sử dụng ma túy và bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội và mại dâm. + Phụ nữ và trẻ em là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trong cuộc sống. Các quyền cơ bản của phụ nữ và trẻ em không được đảm bảo, nạn bạo lực gia đình, sự phân biệt đối xử, định kiến giới đối với phụ nữ diễn ra hằng ngày nhưng họ không tự biết cách bảo vệ mình.2 Khái quát về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị ton thương trong xã hội 1.1 Khái quát chung về quyền nhân thân Với tư cách là thành viên của xã hội, từ khi sinh ra con người đã được hưởng những quyền nhất định thé hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống bao gồm quyền tự do dân chủ về chính trị, quyền về dân sự, quyền về kinh tế — xã hội v. Trải qua quá trình đấu tranh phát triển của xã hội, các quyền của cá nhân ngày càng được tôn trọng thực hiện.
Quyền nhân thân là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người đã được pháp luật Việt Nam quy định cụ thé trong pháp luật dân sự và chủ yếu là BLDS. Điều đó thé hiện sự ghi nhận va bảo vệ của Nhà nước đối với các giá trị của quyên nhân thân.1 Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân “Quyền nhân thân” (Personality rights) của cá nhân là một trong những quyên dân sự cơ bản của con người được pháp luật bảo hộ. Hâu hêt các quôc gia đều thừa nhận quyền nhân thân của con người là một quyền tự nhiên, tuyệt đối, không thể chuyên giao, gắn liền với mỗi cá nhân từ khi họ sinh ra cho đến khi chết đi. Đó là những quyền gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín.
của mỗi người. Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận quyền con người trong đó có quyền nhân thân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bố sung năm 2013) — đạo luật gốc của quốc gia, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất và được cụ thể tại Điều 24 Bộ luật Dân sự 2005: “Quyên nhân thân của cá nhân là quyên dân sự gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định khác ”.