Chương 1: Khái quát chung về quyền của người lập di chúc; Chương 2: Quyền của người lập di chúc theo pháp luật Việt Nam hiện hành; Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền của người lập di chúc và phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền của người lập di chúc. 7 z Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC 1. Khái niệm di chúc Khi một người còn sống có quyền định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình cho người khác sau khi chết, theo ý chí tự nguyện và thể hiện dưới một hình thức pháp lý xác định gọi là di chúc. Thuật ngữ di chúc được đề cập và sử dụng nhiều trong đời sống nên từ lâu đã trở thành một vấn đề hết sức quen thuộc đối với đời sống nhân dân.
Di chúc thường được hiểu một cách đơn giản, truyền thống: “Di chúc là sự dặn lại của một người trước lúc chết với những người khác về những việc cần làm, nên làm” [38, tr.254] hay “là văn bản chính thức ghi những ý muốn của một người, đặc biệt là xử lý những tài sản của mình sau khi chết” [38, tr. Như vậy, về mặt ngữ nghĩa có thể hiểu, di chúc là ý nguyện của cá nhân muốn người khác thực hiện ý nguyện của mình sau khi mình chết, đó có thể là lời dặn con cháu yêu thương lẫn nhau hoặc dặn con cháu làm một công việc gì đó. Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm di chúc cũng đã được hình thành từ rất sớm. Theo Uipian - một luật gia La Mã nổi tiếng thì: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết” [37].
Như vậy, dưới thời La Mã, di chúc đã được hiểu là phương tiện để thể hiện ý chí của người lập ra nó và di chúc có hiệu lực khi người lập ra nó chết đi. Theo pháp luật Anh - Mỹ, thì di chúc được hiểu “là một phương tiện mà một người sử dụng để định đoạt tài sản của mình và chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết, với bản chất là có thể được thay đổi hoặc hủy bỏ trong suốt thời gian mà người lập di chúc còn sống” [9, tr. Theo BLDS của Cộng hòa Pháp thì: “Di chúc là một chứng thư, theo đó người để lại di chúc định đoạt sau khi chết một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình, người đó có 8 z thể hủy bỏ di chúc” [7, Điều 895]. Tương tự như vậy, mặc dù trong Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan không trực tiếp nêu ra khái niệm di chúc nhưng đã gián tiếp định nghĩa di chúc thông qua quy định về quyền của người để lại thừa kế trong việc “giải quyết” tài sản của mình sau khi chết, cụ thể Điều 1646 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: “Bất kỳ người nào có thể, trước khi chết, làm một tuyên bố ý định bằng di chúc về giải quyết tài sản của mình, hoặc những vấn đề khác mà sẽ có hiệu lực theo quy định của pháp luật sau khi người đó chết”.
Ở nước ta, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật các nhà xây dựng pháp luật luôn chú ý đến chuẩn hóa các thuật ngữ pháp lý. Theo tác giả Đoàn Bá Lộc thì di chúc hay chúc thư “là một văn tự lập theo các thể thức pháp định để chứng chắc sự thật và do đó một người để lại cho người thừa kế biết ý định mai hậu của mình” [18, tr. Theo các tác giả của cuốn Bình luận khoa học BLDS 2005 (Tập III) thì: “Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người khi còn sống định đoạt tài sản của mình, để chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản của người đó cho một hay nhiều người thừa kế sau khi chết” [39, tr. Trong pháp luật thực định của Việt Nam, di chúc là một giao dịch dân sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, theo đó, Điều 646 BLDS 2005 đã định nghĩa: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Như vậy, về phương diện khoa học pháp lý di chúc là phương diện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của cá nhân trong việc chuyển dịch tài sản của họ cho người khác sau khi họ chết. Từ khái niệm trên có thể thấy, di chúc có một số đặc trưng sau: Thứ nhất, Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, tự nguyện của cá nhân mà không phải là của bất kỳ chủ thể nào khác: Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và trong một 9 z số trường hợp bao gồm cả Nhà nước. Tuy nhiên, do bản chất của di chúc là nhằm định đoạt tài sản riêng của cá nhân sau khi chết nên di chúc chỉ có thể được lập bởi cá nhân [36, tr.211], ngoài cá nhân pháp luật không thừa nhận quyền lập di chúc của bất cứ một chủ thể nào khác. Sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc được thể hiện ở chỗ, việc lập di chúc, nội dung của di chúc phải do chính người lập di chúc quyết định và định đoạt, bởi vì “việc lập di chúc cũng như việc kết hôn không thể thực hiện bằng lối ủy quyền.
Không ai có thể ủy quyền cho người khác để thay mình lập chúc thư mà pháp luật cũng không có quyền chỉ định một thụ ủy luật định để lập chúc thư thay thế một người khác” [8, tr. Nếu như hợp đồng dân sự “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [27, Điều 388], tức là có sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự thì di chúc là một giao dịch dân sự thể hiện dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương - giao dịch được xác lập theo ý chí cá nhân của người để lại di chúc. Điều này được thể hiện ở chỗ người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc.
Người lập di chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Như vậy, việc có để lại di chúc hay không, nội dung di chúc chỉ định những ai được hưởng di sản, hưởng bao nhiêu, truất quyền thừa kế của ai…hoàn toàn là do người để lại di chúc quyết định mà không cần bàn bạc, trao đổi, thống nhất với những người thừa kế được chỉ định trong di chúc. Đồng thời, không có ai có quyền can thiệp vào 10 z việc lập di chúc, nội dung di chúc, bất cứ sự can thiệp nào ảnh hưởng đến sự tự nguyện của người lập di chúc trong việc lập di chúc đều có thể làm cho di chúc vô hiệu. Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc.
Như vậy, nếu như trong tất cả các loại hợp đồng dân sự đều phải thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyện thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi., thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc. Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất được những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng và cùng nhau ký kết hợp đồng, còn trong di chúc thì không có sự thống nhất giữa người lập di chúc và người được thừa kế theo di chúc. Thực tế đã có nhiều trường hợp người được hưởng thừa kế theo di chúc không thể biết mình có quyền được hưởng di sản theo di chúc vì di chúc chưa được công bố và được cất giữ bí mật. Thứ hai, mục đích của di chúc phải nhằm dịch chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi chết.
Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các chủ thể nhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thì di chúc lại nhằm chuyển dịch tài sản của người đã chết sang cho người còn sống. Người thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Nội dung của di chúc có thể gồm nhiều nội dung khác nhau, đó có thể là những lời dặn dò con cháu sống hòa thuận hoặc thực hiện một số công việc cụ thể nào đó…nhưng nhất định phải có nội dung thể hiện mục đích nhằm chuyển dịch tài sản của người để lại di chúc cho con cháu hay những người khác. Do đó, những di chúc mà nội dung không nhằm định đoạt tài sản của người để lại di chúc cho người khác thì không được xem là di chúc thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự.
11 z Di chúc phải có nội dung là định đoạt tài sản của người để lại di chúc cho người khác nhưng việc định đoạt tài sản ở đây phải là định đoạt tài sản sau khi chết, bởi lẽ, di chúc chỉ có hiệu lực và được thực thi khi người để lại di chúc chết đi. Đây là đặc trưng quan trọng thể hiện bản chất của di chúc và phân biệt giữa di chúc và hợp đồng tặng cho tài sản. Trong thực tế, có trường hợp di chúc được công bố sớm và một số tài sản được giao ngay cho những người được chỉ định hưởng thừa kế quản lý. Trong quá trình quản lý, một số người được chỉ định hưởng thừa kế trong di chúc đã đi đăng ký sở hữu đối với tài sản được tạm giao, có trường hợp, chủ sở hữu (người lập di chúc) không biết nhưng cũng có trường hợp chủ sở hữu biết rõ người quản lý (người được chỉ định trong di chúc) đã đi đăng ký sang tên sở hữu nhưng không phản đối.
Trong những trường hợp này, không thể xem là quyền sở hữu tài sản đã được xác lập đối với những người được chỉ định trong di chúc và đã được tạm giao quản lý tài sản [13, tr. Thứ ba, di chúc có hiệu lực khi người để lại di sản thừa kế chết. Khoản 1 Điều 667 BLDS 2005 quy định: "Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế".