Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền đề nghị xây dựng luật, kiến nghị về luật và trình dự án luật của đại biểu Quốc hội; Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền đề nghị xây dựng luật, kiến nghị về luật và trình dự án luật của đại biểu Quốc hội Việt Nam; Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền đề nghị xây dựng luật, kiến nghị về luật và trình dự án luật của đại biểu Quốc hội Việt Nam. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐỀ NGHỊ XÂY DỰNG LUẬT, KIẾN NGHỊ VỀ LUẬT VÀ TRÌNH DỰ ÁN LUẬT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1. Vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) Quốc hội/Nghị viện là cơ quan mà thông qua cơ quan này người dân ủy quyền quản lý xã hội cho nhà nước. Quốc hội/Nghị viện bao gồm các đại biểu Quốc hội/nghị sĩ đại diện cho nhân dân được người dân bầu ra tại các đơn vị bầu cử.
Đại biểu Quốc hội/nghị sĩ thực hiện vai trò đại diện bằng nhiều con đường khác nhau. Trong đó, cách làm phổ biến nhất là đại biểu Quốc hội/nghị sĩ thể hiện quan điểm tại nghị trường sau khi cân nhắc kiến nghị của cử tri, lợi ích của đơn vị bầu cử và lợi ích quốc gia. Bên cạnh đó, đại biểu Quốc hội/nghị sĩ là một yếu tố quan trọng cấu thành nên Quốc hội/Nghị viện. Vì vậy, đại biểu Quốc hội/nghị sĩ có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện các hoạt động của nghị viện.
Khoản 1, Điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội Việt Nam quy định, đại biểu Quốc hội là "người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội". Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của một số chủ thể trong đó có đại biểu Quốc hội: “Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và hiệu quả của sự phối hợp hoạt động với Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức khác” [27]. 8 Như vậy, có thể nói rằng, đại biểu Quốc hội/nghị sĩ vừa giữ vai trò là người đại diện của cử tri vừa giữ vai trò là người tham gia thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nghị viện gồm: chức năng lập pháp, chức năng giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước và tham gia các hoạt động thông tin, liên hệ với cử tri. Hiệu quả hoạt động của nghị sĩ góp phần quan trọng vào hiệu quả hoạt động của Nghị viện.
Vai trò của đại biểu Quốc hội/nghị sĩ trong hoạt động lập pháp Ở phần lớn các nước trên thế giới, ý tưởng lập pháp thường xuất phát từ Chính phủ. Mặc dù vậy, đại biểu Quốc hội/nghị sĩ thông qua hoạt động của mình đã đóng góp vai trò rất lớn trong hoạt động lập pháp. Vai trò của đại biểu Quốc hội/nghị sĩ được thể hiện qua nhiều cách thức khác nhau. Thông thường, đại biểu Quốc hội tham gia vai trò của mình vào hoạt động lập pháp thông qua việc tranh luận và kiến nghị bổ sung hoặc làm thay đổi các kiến nghị, đề xuất lập pháp của Chính phủ tại các phiên họp toàn thể của Quốc hội hoặc trong các cuộc họp của Ủy ban chuyên môn.
Đại biểu Quốc hội cũng có thể phát huy sự ảnh hưởng của cá nhân lên các nhà hoạch định chính sách thông qua nhiều con đường khác như: thông qua sử dụng vai trò của phương tiện truyền thông tác động đến nhận thức và ý kiến của công chúng trong việc lựa chọn các giải pháp chính sách hoặc tác động tới các nhà hoạch định chính sách thông qua việc tương tác trực tiếp với họ (thông qua tranh luận tại các cuộc họp, thông qua điện thoại, email, cuộc gặp đời thường…). Trên cơ sở đó, đại biểu có thể thuyết phục được Chính phủ điều chỉnh hoặc thay đổi một đề xuất trong lĩnh vực lập pháp [49, tr. Ở một số nước áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực một cách cứng rắn như Hoa Kỳ, quyền trình sáng kiến lập pháp là đặc quyền thuộc về Nghị viện với vai trò chính thuộc về nghị sĩ. Vai trò của nghị sĩ đối với hoạt động 9 lập pháp là rất lớn.
Nghị sĩ với tư cách là người trình hoặc người đồng bảo trợ sẽ thực hiện quyền trình dự án luật ra trước Nghị viện. Vai trò của đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) trong hoạt động giám sát của Quốc hội (Nghị viện) Tương tự như trong hoạt động lập pháp, đại biểu Quốc hội cũng thông qua nhiều cách thức khác nhau để tham gia vào hoạt động giám sát của Quốc hội như: chất vấn, hỏi đáp, điều tra, tham gia các phiên giải trình/điều trần của các Ủy ban, tham gia các cuộc điều tra đặc biệt của các Ủy ban chuyên môn [53]. Đại biểu Quốc hội một số nước còn tham gia hoạt động giám sát của nghị viện thông qua việc thảo luận về kế hoạch lập pháp cho kỳ họp tiếp theo của Quốc hội; tham gia thảo luận về các Báo cáo hoạt động của chính phủ, tòa án nhân dân tối cao…. Bên cạnh việc tham gia vào các hoạt động giám sát của Quốc hội, đại biểu Quốc hội còn tham gia các hoạt động giám sát do các ủy ban tổ chức.
Trong các phiên họp của ủy ban, đại biểu Quốc hội sẽ có nhiều cơ hội để làm rõ hơn về các chi tiết, các vấn đề mà mình quan tâm. Điều này bao gồm trách nhiệm giải trình trong việc thi hành luật của các cơ quan hành pháp dưới góc độ điều tra các vấn đề cụ thể hoặc những vấn đề đang có nhiều tranh cãi. Dưới sự giám sát của đại biểu Quốc hội, chính phủ sẽ hoạt động minh bạch và trách nhiệm hơn trước nhân dân, cử tri. Vai trò đại diện cho cử tri, đơn vị bầu cử và vai trò cầu nối giữa Quốc hội (Nghị viện) và cử tri của đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) a) Vai trò đại diện cho cử tri và đơn vị bầu cử của đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) Như đã phân tích ở trên, đại biểu Quốc hội được cử tri bầu ra tại các đơn vị bầu cử, do đó đại biểu Quốc hội là người đại diện cho cử tri, được cử 10 tri ủy quyền trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Tuy vậy, trong quá trình hoạt động với tư cách là một đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội luôn phải đảm bảo sự dung hòa giữa lợi ích của địa phương nơi bầu ra đại biểu đó với lợi ích quốc gia. Nhìn chung, các đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ lắng nghe ý kiến của công chúng. Các đại biểu Quốc hội cần cân nhắc, hi sinh các lợi ích cá nhân để nhìn nhận sâu sắc hơn các mối quan tâm liên quan đến vấn đề địa phương, vùng miền, đồng thời phải bao quát, cân nhắc vấn đề ở tầm quốc gia [53]. Đây luôn là một vấn đề khó đối với các đại biểu Quốc hội trong quá trình làm nhiệm vụ đại diện của mình.
Để thực hiện tốt chức năng đại diện, đại biểu Quốc hội thường xuyên gặp gỡ với cử tri tại khu vực bầu cử. Thông qua các cuộc gặp gỡ này, đại biểu Quốc hội sẽ nắm bắt được tâm tư của cử tri, từ đó đảm bảo được hiệu quả hoạt động của mình. Các đại biểu Quốc hội có nhiều cách để truyền tải ý kiến cử tri tới Quốc hội. Cách phổ biến nhất là thể hiện quan điểm cử tri tại nghị trường và thay mặt họ đề xuất sáng kiến chính sách để đáp ứng với thực tiễn xã hội.
Thông qua sự tham gia của mình vào quy trình lập pháp, đại biểu Quốc hội cũng gián tiếp giúp cử tri của mình tham gia vào việc hình thành chính sách. Thông qua hoạt động giám sát, đại biểu Quốc hội cũng có thể dựa trên các mối quan tâm của cử tri để tác động lên Chính phủ trong việc ban hành chính sách. b) Vai trò cầu nối giữa Quốc hội (Nghị viện) với cử tri của đại biểu Quốc hội (Nghị sĩ) Đại biểu Quốc hội vừa thực hiện chức năng truyền tải ý kiến cử tri mà mình đại diện tới Quốc hội. Đồng thời, đại biểu Quốc hội cũng đóng vai trò truyền tải các thông tin, các chính sách mà Quốc hội đã quyết định tới cho cử tri được biết.
Đại biểu Quốc hội thường sử dụng các công cụ truyền thông 11 hoặc thông qua tiếp xúc cử tri để thông báo hoạt động của đại biểu Quốc hội, của Quốc hội, thông báo chính sách, pháp luật tới cử tri. Ở Việt Nam, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp. Thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, đại biểu Quốc hội sẽ nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của cử tri tại đơn vị bầu cử ra mình. Kiến nghị của cử tri sẽ được đại biểu Quốc hội cân nhắc chuyển tới Quốc hội.
Ngược lại, các cuộc tiếp xúc cử tri sau kỳ họp là nơi để đại biểu Quốc hội thực hiện trách nhiệm “báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và Quốc hội” [28]. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền đề nghị xây dựng luật, kiến nghị về luật, trình dự án luật của đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) 1. Khái niệm quyền đề nghị xây dựng luật, kiến nghị về luật, trình dự án luật và sáng quyền lấp pháp của đại biểu Quốc hội Quyền kiến nghị về luật, quyền trình dự án luật là những khái niệm pháp lý quen thuộc trong hoạt động lập pháp. Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định về quyền kiến nghị luật, quyền trình dự án luật trong Hiến pháp hoặc trong các văn bản pháp luật khác.
Quyền trình dự án luật được hiểu là quyền của các cơ quan, tổ chức, cá nhân… theo quy định của pháp luật được phép trình dự thảo luật và các văn bản liên quan đến dự thảo luật ra trước Quốc hội (Nghị viện) để xem xét, thông qua thành một đạo luật [36, tr.