CHƯƠNG 1 QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA ĐƯỢC GẶP NGƯỜI BỊ BẮT, NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN ĐANG BỊ TẠM GIAM 1. Quy định pháp luật về quyền của người bào chữa được gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam 1. Quy định về quyền của người bào chữa được gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Về quyền gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam của NBC lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật TTHS năm 1988. Theo đó, khoản 1 Điều 36 Bộ luật TTHS năm 1988 quy định về quyền của NBC, gồm: 1- NBC tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để NBC tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra; 2- NBC có quyền có mặt khi hỏi cung bị can cùng ĐTV và có mặt trong những hoạt động điều tra khác. Với quy định này, Bộ luật TTHS năm 1988 đã tạo điều kiện cho NBC được thực hiện quyền gặp bị can đang bị tạm giam. Tuy nhiên, NBC chỉ được thực hiện các quyền này trong khuôn khổ do cơ quan THTT cho phép và phê duyệt, cụ thể là phải được sự đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án. Bên cạnh đó, pháp luật thời kỳ này cũng chưa quy định NBC có quyền gặp người bị tạm giữ, mặc dù Bộ luật TTHS năm 1988 có quy định về người bị tạm giữ.
Điều 38 quy định về người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Bộ luật TTHS năm 2003 được ban hành với những quy định tiến bộ, quyền của NBC được mở rộng hơn. Đó là quy định NBC được quyền tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ (khoản 1 Điều 58) trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 (Bắt người trong trường hợp khẩn cấp) và Điều 82 (Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã); NBC có quyền gặp người bị tạm giữ (điểm e khoản 2 Điều 58). Đến năm 2011, Bộ Công an ban hành Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 về quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật TTHS liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS.
Qua các quy định của Thông tư này đã thể hiện cách nhìn nhận mới của Cơ quan tiến hành tố tụng đối với vai trò của NBC trong giai đoạn điều tra VAHS, tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can được tiếp cận với NBC. Theo đó, Thông tư đã có những quy định mang tính nguyên tắc về tôn 8 trọng và bảo vệ quyền của NBC (Điều 3); người bị tạm giữ, bị can được ĐTV giải thích quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa và thực hiện thủ tục nhờ NBC (Điều 4); quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận NBC đối với luật sư và bào chữa viên nhân dân, về thủ tục NBC gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Mặc dù, Bộ luật TTHS năm 2003 và Thông tư số 70/2011/TT-BCA có những quy định tiến bộ so với Bộ luật TTHS năm 1988. Thế nhưng, các quy định này vẫn còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực tiễn, gây khó khăn cho NBC nói chung và luật sư nói riêng trong quá trình tham gia tố tụng, đặc biệt là việc thực hiện quyền được gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
Cụ thể như sau: Về quyền của NBC được gặp người bị bắt, Bộ luật TTHS năm 2003 chưa quy định. Về quyền của NBC được gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ quy định chung chung tại điểm e khoản 2 Điều 58: “Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam”. Thế nhưng, tại Điều 10 Thông tư 70/2011/TT-BCA quy định: “Khi NBC có văn bản đề nghị CQĐT cho gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì CQĐT làm các thủ tục theo quy định của pháp luật để NBC được gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam; nếu từ chối cho gặp thì phải thông báo cho NBC biết bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối”. Với quy định này đã gây khó khăn cho NBC trong việc thực hiện quyền gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
Bởi NBC muốn thực hiện quyền của mình phải được sự chấp thuận của CQĐT và ý chí chủ quan của ĐTV, trong khi pháp luật cũng không quy định những trường hợp cụ thể nào thì CQĐT được quyền từ chối không cho NBC được gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Do vậy, chính các quy định này đã tạo thành một rào cản pháp lý khiến cho NBC không thể thực hiện quyền này trên thực tế khi tham gia tố tụng. Vấn đề gặp gỡ người bị tạm giữ/bị can đang bị tạm giam trong giai đoạn điều tra, có 44,5% Luật sư được khảo sát cho rằng, cho dù Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phối hợp được ban hành, họ vẫn thường xuyên chưa thật sự thấy thuận lợi trong việc được gặp gỡ người bị tạm giữ/bị can; 53,2% Luật sư cho rằng, họ thường xuyên gặp khó khăn trong việc gặp gỡ thân chủ của mình. Lưu ý, có hơn 1/3 số Luật sư cho biết, họ hoàn toàn không được gặp thân chủ trong giai đoạn điều tra1.
1 Phan Trung Hoài (2016), Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 9 Nhiều ý kiến đánh giá Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phối hợp chưa thật sự có tác động nhiều tới việc hỗ trợ Luật sư được gặp người bị tạm giữ/bị can đang bị tạm giam. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số các Luật sư cho biết, họ chưa được chủ động trong việc tiếp xúc và trao đổi với khách hàng. Phần lớn Luật sư vẫn thường xuyên chỉ được trao đổi với khách hàng khi ĐTV cho phép trong cả giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố.
Trong giai đoạn điều tra, 37,1% Luật sư cho rằng, họ hiếm khi được chủ động trao đổi với khách hàng mà không bị hạn chế. Ngoài ra, Thông tư số 70/2011/TT-BCA yêu cầu NBC phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy chế của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam nhưng lại chưa có sự thống nhất quy định chung trên toàn quốc dẫn đến khó khăn cho NBC thực hiện việc gặp người bị tạm giữ, bị can2. Quy định về quyền của người bào chữa được gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 1. Những quy định chung Quyền được gặp người bị bắt, bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam của NBC ở giai đoạn điều tra VAHS là rất quan trọng.
Bởi đó là cơ sở để NBC triển khai và định hướng các hoạt động bào chữa trong TTHS. Bộ luật TTHS năm 2015 ra đời trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về NBC, Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, mở rộng phạm vi người được bào chữa là người bị bắt. Cụ thể hóa Hiến pháp, Bộ luật TTHS năm 2015 đã xây dựng một chương mới (Chương V) về bào chữa, thể hiện bước chuyển căn bản trong nhận thức toàn diện và sâu sắc tinh thần Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Điều 72 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “NBC là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền THTT tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”.
NBC có thể là: Luật sư: Là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)3. Tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề của luật sư là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề Luật sư thì 2 Phan Trung Hoài (2016), tlđd (1), tr. 3 Điều 2 Luật luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012. 10 có thể trở thành luật sư; người có đủ tiêu chuẩn nói trên muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư4.
Người đại diện của người bị buộc tội: Đây là người đại diện theo pháp luật của cá nhân. Thông thường, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội là những người ruột thịt, thân thích của người bị buộc tội như: bố, mẹ, anh, chị, em ruột, vợ, chồng,… của người bị buộc tội5. Bào chữa viên nhân dân: Là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình6. Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý: Người được trợ giúp pháp lý gồm: Người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo; trẻ em; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn; Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong VAHS; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng chống mua bán người; Người nhiễm HIV7.