chương 1 Trong thế giới phát triển đa chiều như hiện nay thì vấn đề quyền con người luôn là trung tâm chi phối các hoạt động của mọi quốc gia. Nó mang tính phổ biến chung của nhân loại. Các quốc gia đã hiện thực hóa và phản ánh vào các quy phạm pháp của quốc gia mình để tạo cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế. Ở Việt Nam, việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, đã được ghi nhận trong toàn bộ hệ thống pháp luật, đặc biệt đối với các quy định pháp trong TTHS mà mấu chốt thực hiện các quyền này đối với bị cáo ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự hiện nay.
Để có cơ sở nghiên cứu quy định 15 của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền của bị cáo và việc thực hiện quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong chương này của luận văn, tác giả đã đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền của bị cáo trên cơ sở làm rõ các khái niệm khác có liên quan như: quyền, quyền con người, quyền công dân. Từ việc nghiên cứu những khái niệm này trên phương diện ngôn ngữ học tác giả đi đến định nghĩa về quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; nêu và phân tích ý nghĩa của việc quy định và thực hiện quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 16 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG VỀ QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ VIỆC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN 2. Quyền của bị cáo trong xét xử hình sự theo quy định của luật pháp quốc tế Quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử thuộc phạm trù quyền con người.
Trong phạm vi quyền con người được ghi nhận tại các công ước quốc tế như: “Không người nào bị giam hoặc cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào bị tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm. Không được viện dẫn bất kỳ hoàn cảnh nào để biện minh cho việc tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [24; 698]. Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xác định tại Điều 27: “Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng. Vấn đề xét xử không chậm trễ trong TTHS được đề cập trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của Điều 14.
Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân sách cho thực thi pháp luật” [23, 367] Quyền này có một ý nghĩa quan trọng trong TTHS vì việc áp dụng pháp luật không chỉ cần đúng đắn mà còn phải kịp thời. Nếu công lý không được thực hiện kịp thời thì cũng không còn nhiều ý nghĩa. Trước hết đối với quyền lợi của những người bị hại thì rõ ràng là vụ án càng kéo dài càng bị ảnh hưởng (trừ trường hợp có sự thỏa thuận bồi thường giữa các bên trong vụ án). Ngoài ra, tâm lý theo đuổi vụ án kéo dài cũng rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến 17 cuộc sống, công việc hàng ngày của những người tham gia tố tụng.
Sau đó, chính bản thân những người bị tình nghi phạm tội, những người bị buộc tội cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Đó là những trường hợp như do sự chậm trễ của hoạt động tư pháp mà nhiều người bị bắt, tạm giữ, tạm giam sau nhiều ngày mới được xác định là vô tội và được trả tự do. Ngay cả người bị buộc tội có bị kết án đi chăng nữa thì việc chờ đợi quá lâu một hình phạt đối với mình cũng bị xem là một hành động tra tấn [23, 287]. Nội dung về quyền được xét xử công bằng được đề cập tại các Điều 10, 11 tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc, 1948 (UDHR), là quyền cơ bản của bị cáo, có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các quyền khác trong quá trình xét xử.
Tại Điều 10 có nêu: “Mọi người, với tư cách bình̀ đẳng về mọi phương diêṇ , đều có quyền được một toà án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác đinḥ quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó”. Điều 11 nêu: “(1) Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai nơi người đó đã có được tất cả nhưng đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sơ luật pháp. (2) Không ai bi ̣ kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bi ̣coi là một tội hình sự theo quy đinḥ của luâṭ pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm đó. Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy”[31].
Theo định nghĩa của “Tìm hiểu về quyền con người” – tài liệu hướng dẫn về giáo dục về quyền con người, Nhà xuất bản tư Pháp (dịch ra từ: tài liệu của mạng lưới an ninh con người dựa trên sáng kiến của Bộ Ngoại giao Áo) thì: Quyền được xét xử công bằng liên quan đến thi hành công lý trong lĩnh vực dân sự và hình sự. Ngay từ đầu cần phải hiểu rằng việc thi hành công lý 18 phù hợp gồm hai khía cạnh: mang tính thể chế (chẳng hạn như sự độc lập và không thiên vị của tòa án) và mang tính thủ tục (chẳng hạn như sự công bằng trong xét xử). Nguyên tắc xét xử công bằng duy trì một loạt các quyền cá nhân đảm bảo cho việc thi hành công lý thích hợp từ lúc nghi ngờ đến khi thi hành công lý. Theo pháp luật quốc tế, các quyền tối thiểu của bị cáo: - Tất cả mọi người sẽ được bình đẳng trước tòa án và có quyền được đảm bảo tối thiểu đối với việc xét xử công bằng với sự bình đẳng thực sự; - Mọi người có quyền được xét xử công bằng và công khai.
Do đó công chúng rộng rãi có thể chứng kiến việc xét xử; - Mọi người bị kết tội phạm tội sẽ có quyền được coi là vô tội cho đến khi chứng minh được sự phạm tội theo luật pháp; - Mọi người đều có quyền được xét xử kịp thời; - Mọi người đều có quyền được có mặt khi xét xử. Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc thông qua trợ giúp pháp lý, bị cáo sẽ được thông báo về quyền này, trong bất kỳ trường hợp nào đòi hỏi phải có quyền lợi về công lý thì bị cáo sẽ được trợ giúp pháp lý miễn phí nếu bị cáo không đủ khả năng chi trả; - Bị cáo có quyền thẩm vấn nhân chứng chống lại anh ta và có quyền tham gia và tiến hành thẩm vấn nhân chứng vì quyền lợi của mình. Bị cáo có quyền không bị ép buộc nhận tội; - Bị cáo có quyền nhận sự giúp đỡ miễn phí của phiên dịch nếu anh ta không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ mà tòa án sử dụng; Theo luật pháp quốc gia hoặc quốc tế sẽ không ai bị buộc phạm tội hình sự do bất kỳ hành vi hay sai sót nào không cấu thành tội hình sự tại thời điểm sự việc xảy ra. Cũng không áp đặt hình phạt nào nặng hơn hình phạt đã áp dụng tại thời điểm tội phạm xảy ra.
Trong các quyền đó đáng chú ý nhất là các quyền sau: 19 Thứ nhất, quyền được xét xử công bằng. Quyền này tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự. Luật quốc tế bảo vệ những người bị bắt giữ vì cho rằng khi bị cáo buộc tội danh hình sự thì bị cáo sẽ phải đối mặt với cả một guồng máy nhà nước, mà ở đó nhân phẩm, thân thể, tính mạng của bị can, bị cáo…có thể bị đe dọa bởi sự lạm dụng quyền hạn của nhân viên công lý trong khi thực thi pháp luật. Do đó, “xét xử công bằng” có nghĩa là cho đương sự được bình đẳng về vũ khí (phương tiện) và cơ hội trong phiên xử.
Các bên liên quan đến vụ án phải được đối xử ngang nhau khi tham dự phiên toà, nghĩa là phải được thông tin giống nhau, được trình bày và biện hộ trong những điều kiện như nhau. Muốn đảm bảo cho việc xét xử được công bằng thì quyền của bị cáo phải được bảo vệ nghiêm túc từ khi bị bắt cho đến khi có bản án chung thẩm (hoặc giám đốc thẩm). Tính phổ biến của quyền được xét xử công bằng thể hiện ở chỗ đó là quyền mang tính phổ biến của con người, khi một người nào đó bị khởi tố về các tội hình sự đều có quyền được xét xử công bằng, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì; chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. xét xử công bằng sẽ có mối liên hệ phụ thuộc và tác động đến các quyền khác.
Khi quyền được xét xử công bằng bị vi phạm hay không được đảm bảo sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hướng, tác động đến các quyền khác. Chẳng hạn một người bị vi phạm quyền được xét xử công bằng dẫn đến bị xử oan sai về tội phạm hình sự có thể bị ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại, quyền sống… và khi quyền được xét xử công bằng được đảm bảo thì các quyền khác cũng được tôn trọng đảm bảo theo. Ngược lại, khi các quyền con người khác được đảm bảo như quyền tự do đi lại, quyền tự do tiếp cận thông tin… được đảm bảo thì sẽ có ảnh hưởng tích cực đến quyền được xét xử công bằng. Thứ hai, quyền được suy đoán vô tội.
Nguyên tắc suy đoán vô tội được hình thành tương đối sớm trong nhiều nền tư pháp trên thế giới. Tuyên ngôn 20 nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) đã khẳng định mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội (Điều 9). Quyền được suy đoán vô tội là một nguyên tắc quyết định cách thức đối xử với bị can, bị cáo trong suốt quá trình điều tra và xét xử.