phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quyền của bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong xét xử hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện Chƣơng 2: Thực trạng quyền của bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong xét xử hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA BỊ CÁO LÀ NGƢỜI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Những vấn đề chung về quyền của bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm quyền của bị cáo là người chưa thành niên trong xét xử hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện Trƣớc khi xác định khái niệm quyền của bị cáo là ngƣời chƣa thành niên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về bị cáo là ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong TTHS. Theo các giai đoạn phát triển và theo lứa tuổi của con ngƣời đƣợc hiểu dƣới góc độ thuật ngữ pháp lý thì chia thành ngƣời chƣa thành niên (NCTN) (trong đó có trẻ em) và ngƣời đã thành niên.
Ngƣời thành niên có thể hiểu là ngƣời thuộc về lứa tuổi trƣởng thành cả về thể chất và tinh thần, về tâm lý lẫn sinh lý. Theo từ điển Tiếng Việt khái niệm NCTN là: “NCTN là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng nhƣ chƣa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”[52, tr. Ở phạm vi rộng hơn, các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến NCTN mà Việt Nam đã phê chuẩn là thành viên gồm: Công ƣớc về quyền trẻ em (đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với trẻ em (gọi là Quy tắc Bắc Kinh ngày 29-11-1985); Hƣớng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở trẻ em (Hƣớng dẫn Ri-át, ngày 14-12-1990), … thì trẻ em đƣợc xác định là ngƣời chƣa thành niên. Còn các văn kiện của một số tổ chức thuộc Liên hợp quốc nhƣ: Quỹ dân số thế giới (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định trẻ em là ngƣời dƣới 15 tuổi.
Nhƣ vậy, theo pháp luật quốc tế ngƣời chƣa thành niên đƣợc coi là trẻ em. 11 Pháp luật Việt Nam quy định chƣa có sự thống nhất với nhau một cách cụ thể để xác định lứa tuổi nào là trẻ em, lứa tuổi nào là NCTN, cũng nhƣ phân biệt một cách rõ ràng khái niệm trẻ em, trẻ vị thành niên và NCTN. Cụ thể: Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Ngƣời lao động chƣa thành niên là ngƣời lao động chƣa thành niên”[38]. Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi” [42].
Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “ngƣời chƣa đủ 18 tuổi là NCTN”. Theo đó, NCTN là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi và nhƣ vậy cũng phù hợp với các quy định chung của công ƣớc quốc tế về trẻ em mà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên. Dƣới góc độ pháp luật hình sự, NCTN phạm tội là ngƣời từ đủ 14 tuổi đến chƣa thành niên vào thời điểm họ thực hiện tội phạm. Từ quy định này của BLHS hiện hành NCTN là những ngƣời chƣa đủ 18 tuổi, nhƣng chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi đến chƣa thành niên mới phải chịu TNHS về hành vi phạm tội, những ngƣời dƣới 14 tuổi không bị truy cứu TNHS đối với mọi hành vi của mình.
Trong đó, ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS. Nhƣ vậy, tuổi bắt đầu có năng lực TNHS là từ đủ 14 tuổi và tuổi có năng lực TNHS đầy đủ là đủ 16 tuổi trở lên [41]. Dƣới góc độ pháp luật TTHS, Điều 61 BLTTHS 2015 quy định bị cáo là ngƣời hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đƣa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân đƣợc thực hiện thông qua ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật TTHS.
Căn cứ vào quy định này và quy định tại Điều 12 của BLHS về tuổi chịu TNHS, thì có thể hiểu bị cáo chƣa thành niên là ngƣời từ đủ 14 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đƣa ra xét xử. 12 Từ những phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm về ngƣời phạm tội chƣa thành niên nhƣ sau: Dưới góc độ TTHS, người phạm tội chưa thành niên là người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Thuật ngữ “ngƣời chƣa thành niên” đã đƣợc đổi thành “ngƣời dƣới 18 tuổi” trong các quy định có liên quan của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015. Đây là một điểm mới trong quá trình lập pháp, việc thay đổi này có thể nhằm mục đích tránh sự mâu thuẫn giữa hai bộ luật trên với Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) trong thời gian tới.
Theo đó, trẻ em là ngƣời chƣa thành niên chứ không phải dƣới 16 tuổi. Việc nâng độ tuổi của trẻ em sẽ giúp cho những ngƣời thuộc nhóm tuổi từ đủ 16 đến chƣa thành niên nhận đƣợc chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo dục về đạo đức, nhân cách, tâm lý và kỹ năng sống; qua đó có thể góp phần phòng ngừa và giảm số lƣợng tội phạm chƣa thành niên. Việc BLTTHS năm 2015 sử dụng tên gọi “ngƣời dƣới 18 tuổi” để chỉ NCTN trƣớc đây mang tính “an toàn” tạm thời và cần thiết. Thứ hai, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong TTHS.
Theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì bị cáo đều là chủ thể của nguyên tắc suy đoán vô tội. Vậy bị cáo là gì? Theo Điều 61 - BLTTHS Việt Nam năm 2015: “Bị cáo là ngƣời hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đƣa ra xét xử” [40]. Định nghĩa này cũng chƣa phản ánh đầy đủ dấu hiệu của bị cáo. Tòa án chỉ có thể quyết định đƣa ra xét xử đối với những bị cáo đã bị VKSND truy tố ra trƣớc Tòa án.
Quyết định này là sự khẳng định chính thức của Tòa án về việc đã có đủ điều kiện cần thiết để tiến hành mở phiên tòa xét xử đối với bị cáo bị VKS truy tố, còn bị cáo có tội hay không có tội sẽ là nội dung của chức năng xét xử thực hiện ở phiên tòa và thể hiện trong bản án của Tòa án. Trong quy định của BLTTHS năm 2015, khái niệm bị cáo đƣợc ghi nhận tại Điều 61: “Bị cáo là ngƣời hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đƣa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân đƣợc thực hiện thông qua ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này” [40]. 13 Điểm mới của BLTTHS Năm 2015 là mở rộng thêm chủ thể với tƣ cách là bị cáo, ngoài là cá nhân thì nay còn có thêm pháp nhân.
Nhƣ vậy, bị cáo chưa thành niên là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 đến chưa thành niên đã bị VKS truy tố bằng bản cáo trạng ra trước Tòa án và Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Thứ ba, cần xác định khái niệm quyền của bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử vụ án hình sự nói riêng. Trƣớc khi bàn đến khái niệm quyền của bị cáo cần tìm hiểu khái niệm quyền và QCN, quyền công dân. Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi.
Về khái niệm QCN, hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau. Một định nghĩa phổ biến thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: QCN là những quyền cơ bản, không thể tƣớc bỏ mà một ngƣời vốn đƣợc thừa hƣởng đơn giản vì họ là con ngƣời. Một khái niệm khác của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc cho rằng: QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đƣợc phép và tự do cơ bản của con ngƣời. QCN đƣợc xác định nhƣ là chuẩn mực đƣợc kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi ngƣời.
QCN là khái niệm có tính chất bao quát và rộng hơn quyền công dân. QCN là quyền đƣợc áp dụng cho tất cả mọi ngƣời thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tƣ cách cá nhân của chủ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại. Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nƣớc, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nƣớc, đƣợc xác định bởi chế định quốc tịch. Quyền công dân là tập hợp những QCN đƣợc pháp luật của một nƣớc ghi nhận và chỉ những ngƣời mang quốc tịch của một nƣớc thì mới đƣợc hƣởng các quyền công dân mà pháp luật nƣớc đó quy định.
Theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013 thì công dân có quyền tham gia quản lý nhà nƣớc và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với 14 cơ quan nhà nƣớc về các vấn đề của cơ sở, địa phƣơng và cả nƣớc [39]. Nhà nƣớc tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nƣớc và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.