Chương I: Một số van đề lý luận cơ bản về quyên báu cu Chương II: Thực trạng quy định của pháp luật về quyên bầu cử của công dân theo Hiến pháp 2013 Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về quyên bau cu ở nước ta hiện nay NOI DUNG CHUONG I MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE QUYEN BẦU CỬ 1. Những vẫn dé lý luận chung về quyén bau cử 1.1 Khái niệm, bản chất quyên bầu cử * Khái niệm Khi các giai cấp xuất hiện, nhà nước hình thành với tư cách là một thiết chế tựa hồ đứng trên xã hội có chức năng điều hòa những mâu thuẫn, duy trì sự ton tại và phát triển của xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, nhân dân ngày càng nhận thức rõ hơn về vị trí của mình trong xã hội và đòi hỏi phải được tham gia giải quyêt các công việc của nhà nước. Sự tham gia của người dân được thé hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp.
Đối với hình thức dân chủ trực tiếp là việc nhân dân trực tiếp tham gia vào các quyết định của nhà nước, thông qua các hình thức cụ thé như: tham gia quản lý nhà nước và xã hội, biểu quyết khi nhà nước trưng cau ý dân, bau ra cơ quan đại diện của nhân dân. Còn với hình thức dân chủ gián tiếp, mà biểu hiện là dân chủ đại diện được áp dụng rộng rãi, theo lý thuyết đại diện của Locke hay Montesquieu, quyền lực nhà nước theo nguyên tắc, thuộc về nhân dân nhưng nhân dân không thể tự mình thực thi hết quyền lực của mình nên phải ủy thác cho những người đại diện dé thay mat nhan dan thuc hién quyền lực của mình. Trong chế độ dân chủ đại diện, nhân dân thực hiện quyền lực của mình qua khâu trung gian của những đại diện được lựa chọn bằng phương pháp bầu cử. Với tầm quan trọng như vậy, bầu cử trở thành một yếu tố không thé thiếu được trong chế độ xã hội dân chủ đương dai, góp phan không nhỏ cho việc xây dựng chế độ xã hội.
Các hoạt động bầu cử được hình thành dần thành chế độ bầu cử, một phần của chế độ xã hội. Lịch sử đã ghi nhận răng ngay từ thời chiêm hữu nô lệ, các cuộc bâu cử các cơ quan nhà nước đã được dién ra, điên hình là Viện nguyên lão bao gôm những người được bau ra đại diện cho giai cap chủ nô quý tộc va Đại hội nhân dân bao gôm đại diện của những người câm vũ khí. Đên thời kỳ phong kiên, mac dù quyên bau cử bị hạn chê với những điêu kiện vê giai cap, giới tính. nhưng vẫn được áp dụng ở những nước theo chính thê cộng hòa.
Khi giai cấp tư sản lên năm chính quyền, quyền bầu cử của công dân có một bước phát triển quan trọng. So với chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến trước đây, việc áp dụng phương pháp bau cử dé thành lập ra các cơ quan nhà nước của chế độ tư sản là một phương pháp dân chủ. Phương pháp này khác biệt hoàn toàn với hình thức truyền ngôi, thế tập của giai cấp phong kiến. Nhân loại đã phải trải qua cuộc dau tranh bền bi qua các thé hệ để giành được quyền bầu cử.
Lúc ban đầu bầu cử chỉ là công việc của những người thuộc tầng lớp thượng lưu của giai cấp thống trị. Sau đó, bầu cử là của những người có của, những người dan ông. Quyền bau cử phổ thông cho người nghèo, cho phụ nữ cũng như của toàn thể nhân dân là kết quả của các thé kỷ đấu tranh chính trị toàn dân”. Bâu cử là một hoạt động xã hội của con người mà theo đó một nhóm người xác định bau ra một hay nhiêu người dé đại diện cho nhóm người xác định đó để thực hiện chức năng xã hội cụ thẻ.
Chế độ bau cử là chế độ của sự hình thành bằng tổng thể các mối quan hệ xảy ra qua các cuộc bầu cử từ lúc lập danh sách cử tri, giới thiệu ứng cử viên cho đến giai đoạn cuối cùng là xác định và tuyên bố kết quả bầu cử. Hay nói một cách cụ thê hơn, chế độ bầu cử là tổng thể các quy định của pháp luật của một nước bao gồm các nguyên tắc bầu cử, các quy định về quyền bầu cử, quyền ứng cử, vận động tranh cử, đơn vị bầu cử, các tô chức phụ trách bầu cử, việc quản lý bầu cử, cách thức, trình tự tiến hành bầu cử, các biện pháp đảm bảo trật tự bâu cử, điêu chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình bâu cử. Khái niệm bầu cử trong pháp luật được dùng chủ yếu cho quyền bầu cử. Quyên bau cử là quyên năng chính tri cơ ban của công dân được trực tiêp 1 Văn phòng Quốc hội (2002), Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một sốnước, tr.241 tham gia bỏ phiếu bầu ra những người có uy tín, xứng đáng đại diện cho nhân dân, thay nhân dân quản lý và điều hành công việc của đất nước.
Quyền bầu cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình, được Nhà nước đảm bảo. Quyền bầu cử chỉ thực sự có ý nghĩa nếu được tiễn hành dân chủ, không áp đặt, không hình thức, không giả dối. Quyền bầu cử bao gồm quyền bầu cử chủ động và quyền bau cử bị động (quyền ứng cử). Đôi khi quyền bầu cử có thé được hiểu theo nghĩa mở rộng, bao gồm cả quyền bau cử thụ động (quyền có thé được bau).
Quyên bau cử chủ động là quyên được sử dụng trong các cuộc bau cử các cơ quan dân cử ở trung ương hay địa phương, các chức danh nhà nước, trong các cuộc trưng câu ý dân hay thủ tục bãi miên đại biêu. Quyên ứng cử là quy định của pháp luật vê việc công dân có đủ điêu kiện thê hiện nguyện vọng của mình được ứng cử vào các cơ quan quyên lực ở trung ương hay địa phương. * Bản chất Trong cuốn Chinh tri, Aristotle viết răng, sự tham gia của toàn thé công dân vào quá trình hình thành quyết định của đất nước sẽ ưu việt hơn nhiều so với những quyết định chỉ do các chuyên gia đưa ra. Như vậy, làm thế nào để có những quyết định thể hiện ý chí của toàn thé nhân dân? Phương thức phô biến nhất là bầu ra những người đại diện cho toàn thể nhân dân và trao quyền cho họ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Nhân dân rất thông mình. Họ biết dùng lá phiếu của họ, tổng tuyển cử sẽ thành công ”. Bản chất của quyền bầu cử chính là phương thức lựa chọn người làm đại biểu, thay mặt thực hiện quyền lực nhà nước trong các xã hội dân chủ theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, bởi, nhân dân không thé tự mình đứng ra để thực thi hết quyền lực của mình nên cần phải có những người đại diện thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân dựa trên ý chí của nhân dân. Cụ thé, ở Việt Nam, công dân thực hiện quyền bau cử dé thành lập ra các cơ ? Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, , Nxb.
Từ điển bách khoa, tr.52 quan đại diện quyền lực nhà nước gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các chức danh cao nhất của bộ máy nhà nước ở trung ương. Bằng những lá phiếu bau thé hiện ý chí của mình, nhân dân đã chuyển giao quyền lực của mình sang cho người đại diện, đây là cách thức cơ bản nhất để nhân dân tham gia vào việc xây dựng chính quyên, là cơ chế chuyên giao quyền lực hợp pháp của nhân dân cho hệ thông cơ quan đại diện theo quy định của pháp luật. Nội dung quyên bầu cử * Nội dung Quyên bau cử là quyền năng chính trị cơ bản của công dân được trực tiếp tham gia bỏ phiêu bầu ra những người có uy tín, xứng đáng đại diện cho nhân dân, thay nhân dân quản lý và điều hành công việc đất nước. Quyền bầu cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn và quyền bỏ phiếu cho ứng cử viên dé tìm ra người đại biểu của mình, được Nhà nước đảm bảo.
Quyền bầu cử chỉ thực sự có ý nghĩa nếu được tiến hành dân chủ, không áp đặt, không hình thức, giả dối. Quyền bầu cử là thiêng liêng đối với mọi công dân. Với tính chất quan trọng, quyền bầu cử chỉ được quy định cho những người phát triển bình thường về mặt thần kinh, đạt đến độ chín chắn của sự phát triển tâm sinh lý nhăm bảo đảm cho họ có sự lựa chọn chính xác và độc lập. Việc bao đảm quyền bau cử là biểu hiện cụ thé của nguyên tắc bau cử phổ thông va nó phải được thé hiện: Thi? nhất, pháp luật bau cử cần mở rộng đến mọi đối tượng, việc hạn chế quyền bầu cử phải được qui định chặt chẽ, rõ ràng trong pháp luật, tốt nhất là qui định trong các đạo luật về bầu cử.
Thit hai, nhà nước phải có các biện pháp cần thiết, có hiệu qua dé thực hiện quyền bầu cử. Đây là một nội dung quan trọng bởi nếu không như vậy, rất có thể quyền bầu cử của công dân, vì nhiều lý do không được thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện trong các kỳ bâu cử. Quyên ứng cử là là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định trong pháp luật của nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho công 10 dân trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền, xây dựng nhà nước của nhân dân. Quyền ứng cử của công dân là mong muốn được làm đại biểu và khả năng có thé được bau làm đại biểu của công dân.
Quyén ứng cử gồm quyền được đề cử, quyền tự ứng cử và quyền vận động tranh cử. Ứng cử là việc tự mình đăng ký, hoặc được người khác (bao gồm cá nhân người khác, cơ quan, tổ chức.) giới thiệu để ghi tên và danh sách bầu, chọn một vị trí, một danh hiệu nào đó, ví dụ ứng cử vào danh sách dé bau, chọn giam đốc; ứng cử vào danh sách bầu, chọn chiến sĩ thi đua.; ứng cử vào danh sách bầu đại biểu Quốc hội. Như vậy, có hai trường hợp ứng cử, đó là tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử. Việc trả lời câu hỏi “Nhân dân bầu ai?” là một nội dung quan trọng của chế độ bầu cử.