Đặt vấn đề Trong cuộc sống hằng ngày, cá có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Trƣớc hết cá đƣợc coi là nguồn thực phẩm giàu đạm vô cùng quan trọng cung cấp cho đời sống hằng ngày. Phân bố trong tự nhiên, sống ở các loại hình vực nƣớc khác nhau: ao, hồ, sông suối… Cá là thành phần quan trọng, tham gia vào chu trình vật chất và năng lƣợng của các hệ sinh thái ấy. Ngoài hai ý nghĩa trên cá và con ngƣời còn liên quan với nhau về nhiều mặt khác nữa.
Con ngƣời lấy từ cá ra những nguyên liệu dùng trong công nghiệp, y học hay trong cả nông nghiệp. Xét về mặt dinh dƣỡng, cá đƣợc coi là nguồn thực phẩm có đầy đủ các thành phần chất vô cơ, vi lƣợng, các acidamin, các vitamin A, B1, B2, B12, C, D3, D6, E. So với các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật khác, cá thuộc loại thực phẩm khá toàn diện, hàm lƣợng mỡ thấp nên dễ tiêu hóa. Hiện nay, canh tác thủy sản đang diễn ra với nhiều phƣơng thức canh tác khác nhau: từ kỹ thuật thấp đến kỹ thuật cao, từ nuôi thả tự nhiên đến nuôi thả trong lồng … Cũng nhƣ trong canh tác nông nghiệp, trong nuôi trồng thủy sản, giống đƣợc xem là tiền đề của sản xuất.
Sản xuất cá giống là một khâu rất quan trọng, cá giống có ảnh hƣởng đến năng suất và sản lƣợng cá thịt sau này. Làm thế nào để sản xuất ra con giống ngày càng chủ động về thời gian và chủng loại, phong phú về đối tƣợng, đầy đủ về số lƣợng, có phẩm chất tốt, giá trị thƣơng phẩm cao, đáp ứng nhu cầu nuôi cho các loại hình mặt nƣớc…là những vấn đề nhiệm vụ của sản xuất giống hiện nay. Trƣớc những yêu cầu bức thiết đó, nghành thủy sản đã và đang cho ra vô số các sản phẩm giống theo yêu cầu thị trƣờng nhƣ: giống rô phi đơn tính, diêu hồng đơn tính, tra, basa, trắm cỏ… Cùng với các loại giống cá nói trên, giống cá Chép cũng đƣợc coi là một trong những giống đứng đầu về nhu cầu tiêu thụ tại các trạm giống cơ sở hay các trạm tập trung với quy mô lớn. c 2 Cá chép thích nghi đƣợc với môi trƣờng khắc nghiệt, đƣợc coi là đối tƣợng nuôi quan trọng của nhiều nƣớc trên Thế Giới.
Ở nƣớc ta cá chép đƣợc chọn làm đối tƣợng nuôi phổ biến trong các thủy vực dạng ao, hồ, ruộng, lồng, bè. Ngoài ra loài cá này còn gắn liền với phong tục “đƣa ông Táo về Trời” là một nét văn hóa đặc trƣng của ngƣời Việt trong ngày giáp Tết Nguyên Đán nên trong dịp này lƣợng tiêu thụ cá chép cũng khá lớn Cá chép thịt dày và béo, ít xƣơng dăm, thớ thịt trắng mịn, mùi vị thơm ngon, lƣợng đạm 21,7%, mỡ 3,96%, đƣờng 0,39% (Ngô Trọng Lƣ và cs. Không những là món ăn ngon mà còn chứa nhiều chất dinh dƣỡng, có tác dụng trị bệnh tốt. Đây là loài cá dễ nuôi, có màu vàng cam tƣơi sáng rất đẹp nên từ lâu rất đƣợc ƣa chuộng trong các ao cá cảnh.
Cá chép còn có thể thả nuôi ghép với nhiều loài cá khác để tận dụng nguồn thức ăn. Thức ăn cho cá chép đơn giản, dễ kiếm, tận dụng đƣợc các phế phẩm trong nông nghiệp sẽ là giảm chi phí sản xuất và nâng cao tính hiệu quả kinh tế. Với những ƣu điểm trên nên cá chép đƣợc đa số ngƣời dân ƣa chuộng. Cá chép đƣợc nuôi ở nhiều mô hình nuôi kết hợp nhƣ cá, lúa, lợn…vừa có thể cải thiện bữa ăn để nâng cao chất lƣợng cuộc sống, còn có thể làm kinh tế từ những mô hình nuôi trồng nông nghiệp kết hợp hay nuôi đơn.
Khi đƣợc thực hiện các đề tài kỹ thuật chuyên sâu luôn là dịp rất tốt để sinh viên rèn luyện tay nghể, củng cố và ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế. Xuất phát từ đó nên đề tài “THỰC HIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT NHÂN TẠO GIỐNG CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO) DÒNG V1 TẠI XÍ NGHIỆP THỦY SẢN NÚI CỐC” đƣợc thực hiện 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu đề tài - Nắm đƣợc quy trình sản xuất giống cá chép.
Từ đó sản xuất giống để cung cấp giống cá chép có số lƣợng nhiều và chất lƣợng tốt. - Nâng cao trình độ và kỹ năng kỹ thuật sản xuất giống cá nƣớc ngọt. - Rèn luyện và nâng cao kỹ năng ƣơng cá. Yêu cầu đề tài - Theo dõi quá tình sinh trƣởng và phát triển của cá chép qua các thời kỳ - Nắm rõ đƣợc quy trình sản xuất giống và ƣơng nuôi cá chép.
c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là hơn 1 triệu ngƣời, chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nƣớcTỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với Tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với Tỉnh Vĩnh Phúc và Tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp với các Tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội.
Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lƣu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc bộ. Có nhiều dãy núi cao chạy theo hƣớng Bắc Nam và thấp dần xuống phía Nam. Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ. Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam.
Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hƣớng Đông Bắc, Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hƣớng Tây Bắc, Đông Nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc. Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhƣng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác. Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông đƣợc chia thành 3 vùng rõ rệt: - Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.
c 4 - Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lƣơng và phía Nam Võ Nhai. - Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công. Khí hậu Thái Nguyên chia làm 4 mùa rõ rệt xuân – hạ - thu - đông, nhiệt độ trung bình đạt khoảng 23,6oC (năm 2004). Trong đó nhiệt độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17,0oC và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28,8oC (tháng 6).
Thái nguyên là khu vực có độ ẩm khá cao. Trung bình năm đạt tới 82%. Độ ẩm trung bình thấp nhất đạt 77% và lớn nhất 88%. Với lƣợng mƣa khá lớn trung bình đạt 1800 - 2500mm, tuy nhiên lƣợng mƣa phân bố không đồng đều trong khu vực tỉnh theo thời gian, không gian.
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp. Đƣờng bộ: Tổng chiều dài Đƣờng bộ của Tỉnh là 2.753 km trong đó: Đƣờng quốc lộ: 183 km. Đƣờng tỉnh lộ: 105,5km. Đƣờng huyện lộ: 659 km.
Các Đƣờng tỉnh lộ, quốc lộ đều đƣợc dải nhựa. Hệ thống Đƣờng quốc lộ và tỉnh lộ phân bố khá hợp lý trên địa bàn tỉnh, phần lớn các Đƣờng đều xuất phát từ trục dọc quốc lộ 3 đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu kinh tế, vùng mỏ, khu du lịch và thông với các tỉnh lân cận. Đƣờng quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên, chạy qua Thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Các quốc lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống Đƣờng tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh.
Đƣờng sắt: Hệ thống Đƣờng sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện. Tuyến Đƣờng sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua tỉnh nối Thái Nguyên với Hà Nội. Tuyến Đƣờng sắt Quán Triều - Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận chuyển khoáng sản (vận chuyển than). Tuyến Đƣờng sắt Lƣu Xá - Khúc Rồng nối với tuyến Đƣờng sắt Hà Nội -Quán Triều, tuyến Đƣờng sắt này cũng nối tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh (đến Ga kép) và ra tỉnh Quảng Ninh.
Hệ thống Đƣờng sắt của tỉnh Thái Nguyên đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nƣớc. c 5 Đƣờng thuỷ: Thái Nguyên có 2 tuyến Đƣờng sông chính là: Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km. Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km. Trong tƣơng lai sẽ tiến hành nâng cấp và mở rộng mặt bằng cảng Đa Phúc, cơ giới hóa việc bốc dỡ, đảm bảo công suất bốc xếp đƣợc 1.000 tấn hàng hóa/ngày đêm.
Ngoài ra, Thái Nguyên có 2 con sông chính là Sông Cầu và sông Công, cần nâng cấp để vận chuyển hàng hóa Thủy văn: Sông cầu là con sông chính của tỉnh và gần nhƣ chia Thái Nguyên ra thành hai nửa bằng nhau theo chiều bắc nam. Sông bắt đầu chảy vào Thái Nguyên từ xã Văn Lăng, huyện Đồng hỷ và đến địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình, sông trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang và sau đó hoàn toàn ra khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên. Ngoài ra Thái Nguyên còn có một số sông suối khác nhƣng hầu hết đều là phụ lƣu của sông Cầu. Trong đó đáng kể nhất là sông Đu, sông Nghinh Tƣờng và sông Công.
Các sông tại Thái Nguyên không thuộc lƣu vực sông Cầu là sông Rang và các chi lƣu của nó tại huyện Võ Nhai, sông này chảy sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn và thuộc lƣu vực sông Thƣơng. Ngoài ra, một phần diện tích nhỏ của huyện Định Hóa thuộc thƣợng lƣu sông Đáy. Ô nhiễm nguồn nƣớc là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là tình trạng ô nhiễm trên sông Cầu. Ngoài đập sông Cầu, Thái Nguyên còn xây dựng một hệ thống kênh đào nhân tạo dài 52 km ở phía đông nam của tỉnh với tên gọi là Sông Máng, nối liền sông Cầu với sông Thƣơng để giúp việc giao thông đƣờng thủy và dẫn nƣớc vào đồng ruộng đƣợc dễ dàng.