chương 1 Quy luật phủ định của phủ định của phép biện chứng duy vật là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật tập trung lý giải vấn đề là sự phát triển của quá trình vận động của sự vật hiện tượng. Quy luật cung cấp cơ sở lý luận khách quan nhằm nghiên cứu rõ nét về sự phát triển thông qua các khái niệm: Phủ định; phủ định biện chứng; kế thừa biện chứng. Từ các mối liên hệ của các khái niệm này, tính chất của phủ định biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định đã giúp cho nhóm 2 có một góc nhìn khách quan, đúng đắn và phù hợp; tạo điều kiện thuận lợi cũng như nền tảng cho việc tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu nội dung của chương sau. Thứ nhất: Chúng tôi đã nghiên cứu, phân tích về các khái niệm của “phủ định”, “phủ định biện chứng”.
Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển. Phủ định biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển. Chúng tôi phân tích sâu về phủ định biện chứng: Phủ định biện chứng thể hiện sự tự phủ định của sự vật hiện tượng, là mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng. Sự phủ định biện chứng trong quá trình vận động phát triển của sự vật hiện tượng là khách quan và tất yếu.
Vì sự vật hiện tượng trong quá trình vận động khách quan, sự thay đổi lượng dẫn đến thay đổi về chất mà sự vật hiện tượng có điều kiện cho phủ định, sau đó chính từ mâu thuẫn nội tại của sự vật hiện tượng mà phát khởi nên sự phủ định tự thân của sự vật hiện tượng. Trải qua những lần phủ định biện chứng mà sự vật hiện tượng phát triển. Như vậy, phủ định biện chứng không chỉ là khách quan mà còn là nền tảng cho sự phát triển của sự vật hiện tượng. Thông qua những chu kỳ phủ định mà sự vật hiện tượng từ cũ chuyển sang sự vật hiện tượng mới phù hợp hơn, cái đơn giản trở thành cái phức tạp, kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Từ những nội dung phân tích tổng quát về “phủ 11 định” và “phủ định biện chứng” đã làm rõ cho chúng ta về sự thay đổi của sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển. Sự thay đổi, thay thế từ sự vật hiện tượng cũ thành sự vật hiện tượng mới ngoài là quá trình tất yếu, khách quan thì còn là quá trình kế thừa và tự sửa chữa từ mâu thuẫn nội tại của chính sự vật hiện tượng. Từ luận điểm này, chúng ta có một cơ sở nội dung bổ trợ cho nhận thức, từ đỏ điều chỉnh nhận thức đúng đắn tạo điều kiện cho hành vi, hoạt động phát triển. Thứ hai: Chúng tôi phân tích tính chất của phủ định biện chứng bao gồm: Tính khách quan, tính kế thừa, tính phổ biến, tính đa dạng và phong phú.
Phủ định biện chứng có tính khách quan vì nguyên nhân dẫn đến phủ định biện chứng là ở mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật hiện tượng. Phủ định biện chứng có tính kế thừa vì quá trình tự phủ định của sự vật hiện tượng không loại bỏ hoàn toàn mà giữ lại có chọn lọc những nội dung tích cực, phù hợp của sự vật hiện tượng cũ. Phủ định biện chứng có tính phổ biến do nhu cầu phát triển và tồn tại của các sự vật luôn là xuyên suốt và tất yếu. Phủ định biện chứng có tính đa dạng và phong phú do tính chất, nguyên lí tồn tại, nguyên lí hoạt động của sự vật ở các lĩnh vực là khác nhau, nên phương thức phủ định biện chứng diễn ra ở các sự vật là khác nhau hoàn toàn, làm nên sự đa dạng và phong phú của phủ định biện chứng.
Việc hiểu được các tính chất của phủ định biện chứng sẽ giúp ta nhận biết được bức tranh toàn cảnh của sự phát triển các sự vật hiện tượng trong các lĩnh vực khác nhau như kỹ thuật, sinh học, y tế,… và cả ở mỗi cá nhân. Khái niệm này sẽ là kim chỉ nam cho sự tiến bộ, cải thiện của chúng ta nếu như được hiểu sâu và ứng dụng tạo nên một nhận thức khách quan, rõ ràng, hiệu quả. Thứ ba: Chúng tôi đã nghiên cứu, phân tích, giải thích về nội dung ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định và nêu ví dụ, cụ thể như sau: Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng tiến lên, sự thống nhất giữa tính tiến bộ và tính kế thừa trong quá trình phát triển của sự vận động của sự vật hiện tượng. Vì sau chu kỳ phủ định mà sự vật hiện tượng phát triển, thông qua phủ định biện chứng của chính sự vật hiện tượng trong việc giải quyết các mâu thuẫn nội tại.
Quá trình phủ định biện chứng có sự kế thừa biện chứng bên trong nên sự vật hiện tượng trong sự vận động phát triển thống nhất giữa tính tiến bộ và kế thừa. Sự phát triển diễn ra quanh co phức tạp thậm chí có những bước thụt lùi tạm thời. Vì quá trình phát triển của sự vật hiện tượng mang tính chu kỳ của phủ định, và phải trải qua ít nhất hai lần phủ định nên sự phát triển 12 không thể theo mô hình đường thẳng. Sau lần phủ định đầu tiên, sự vật hiện tượng biến đổi thành cái mới mang tính phiến diện, đối lập với cái ban đầu.
Lần phủ định thứ hai, lần phủ định toàn diện, thực hiện kế thừa biện chứng và lọc bỏ hoàn toàn yếu tố của sự vật hiện tượng cũ, kết thúc chu kỳ phủ định và đánh dấu hoàn thành sự phát triển của sự vật hiện tượng. Trong tự nhiên, sự vật hiện tượng mới diễn ra tự phát còn trong xã hội sự xuất hiện cái mới gắn liền với hoạt động ý thức của con người. Bởi vì trong tự nhiên, sự vật hiện tượng mới là khách quan và tự phát do chính yếu tố về nội tại của sự vật hiện tượng, còn ý thức người trải qua quá trình phát triển hay phủ định biện chứng xong mới từ đó có nền tảng tác động trở lại vật chất qua thực tiễn tạo nên cái mới. Tạo điều kiện cho cái mới ra đời hợp quy luật, chống lại tư tưởng bảo thủ phủ định sạch trơn.
Vì phát triển mang tính chu kỳ của những lần phủ định nên chúng ta cần tạo điều kiện cho việc ra đời của cái mới hợp quy luật. Đồng thời do kế thừa biện chứng, cốt lõi của quá trình phát triển, mà chúng ta cần chống lại tư tưởng bảo thủ phủ định sạch trơn. Như vậy, ý nghĩa phương pháp luận quy luật phủ định của phủ định là vô cùng to lớn, có tính quan trọng và hiệu quả cao cho việc mô tả quá trình phát triển của sự vật hiện tượng. Tóm lại, quy luật phủ định của phủ định đã thể hiện, mô tả một cách cụ thể về quá trình phát triển của sự vật hiện tượng trong sự vận động khách quan của chúng.
Nguyên nhân từ sự phủ định biện chứng do chính mâu thuẫn nội tại của sự vật hiện tượng mà dẫn đến sinh ra sự vật hiện tượng mới đã kế thừa biện chứng. Quy luật phủ định của phủ định vì thế trở thành cơ sở lý luận cho quá trình phân tích, nghiên cứu về sự phát triển trong mọi lĩnh vực. 13 Chương 2 GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Khái niệm “văn hóa”, “bản sắc văn hóa” và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội 2.
Khái niệm “văn hóa”, “bản sắc văn hóa”, “bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam” Văn hóa và bản sắc không chỉ là những khía cạnh quan trọng trong đời sống cá nhân mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành và duy trì các cộng đồng, quốc gia. Bản sắc cá nhân và bản sắc dân tộc là kết quả của quá trình tương tác liên tục giữa con người với môi trường văn hóa, xã hội, lịch sử và cả chính trị. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, sự giao thoa giữ các nền văn hóa đặt ra nhiều thách thức và cơ hôi, buộc chúng ta phải định nghĩa lại bản sắc của mình dưới ánh sáng mới. Việc tìm hiểu về văn hóa và bản sắc của mình dưới ánh sáng mới.
Việc tìm hiểu về văn hóa và bản sắc không chỉ giúp cá nhân hiểu rõ về chính mình mà còn tạo nên sự đoàn kết, gắn kết trong cộng đồng, qua đó khẳng định vị trí và vai trò của mỗi người trong xã hội. Thứ nhất, khái niệm “văn hóa”. Đây là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”1. Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của hoạt động sáng tạo gắn với quá trình phát triển lịch sử, tạo nên những giá trị nhân văn phổ quát và bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào định nghĩa có tính tổng quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ dàng bị hiểu một cách sai lệch: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo, mà cụ thể hơn là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa ở cấp xã hội lại càng không chỉ có thế.
Bàn về văn hóa, Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, 1 Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia.78 14 ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1. Định nghĩa này giúp ta hiểu văn hóa rõ ràng hơn.