Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và cơ sở lý luận về quy hoạch phát triển kinh tế cấp huyện Chương 2: Phƣơng pháp và địa bàn nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quy hoạch phát triển kinh tế huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quy hoạch phát triển huyện Hoàng Su Phì đến năm 2020. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CẤP HUYỆN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn Nền kinh tế càng phát triển, hội nhập càng sâu, chất lƣợng cuộc sống càng đòi hỏi cao hơn.
Song đến lƣợt nó, muốn phát triển kinh tế phải cần chú trọng đến rất nhiều các yếu tố từ các nguồn lực đầu vào đến thị trƣờng đầu ra của sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nếu không có một sự định hƣớng phát triển rõ ràng thì sự phát triển đó sẽ không ổn định và hiệu quả đem lại thực sự không cao. Chính vì vậy, bất cứ một quốc gia, một địa phƣơng nào cũng đặt công tác xây dựng và không ngừng hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vào những nhiệm vụ hàng đầu cần thực hiện. Đây là lý do rất nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực này.
Nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế của một số địa phương Tính đến thời điểm hiện nay, tất cả các tỉnh thành trong cả nƣớc đều đã xây dựng cho mình quy hoạch phát triển kinh tế định hƣớng đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, 2050. Trên địa bàn các tỉnh, thành phố, các cấp huyện, phƣờng cũng hầu hết đã xây dựng cho mình quy hoạch phát triển kinh tế định hƣớng đến năm 2020. Qua quá trình triển khai thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế, các địa phƣơng đã chú trọng thực hiện việc tổng kết, đánh giá các giai đoạn thực hiện, đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của quy hoạch này để có đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu, chỉ ra đƣợc những nguyên nhân và định hƣớng giải pháp khắc phục, điều chỉnh quy hoạch. Có thể chỉ ra một số ví dụ điển hình nhƣ sau: a) Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020 Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đƣợc xây dựng và đƣợc phê duyệt bởi Thủ tƣớng Chính phủ theo Quyết định 1081/QĐ-TTg ngày 06 tháng 07 năm 2011.
Theo đó, việc xây dựng quy hoạch đƣợc dựa trên cơ sở đánh giá các nguồn 4 z lực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội, bao bồm: tài nguyên đất, nƣớc, con ngƣời, nguồn vốn đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, v.v… Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đƣợc phê duyệt bao gồm những nội dung chủ yếu nhƣ: - Quan điểm phát triển. - Mục tiêu phát triển: trong đó có mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể. - Định hƣớng phát triển các ngành, lĩnh vực. - Phƣơng hƣớng tổ chức không gian phát triển.
- Các trọng tâm phát triển. - Các chƣơng trình, dự án ƣu tiên nghiên cứu đầu tƣ. - Giải pháp để thực hiện quy hoạch. Định kỳ hằng năm, thành phố Hà Nội thực hiện đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội dựa trên các tiêu chí nhƣ: - Sự tăng trƣởng, phát triển của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế.
- Sự tăng trƣởng và cơ cấu đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội. - Tiêu chí về thu ngân sách nhà nƣớc - Tiêu chí về CPI và tỷ lệ lạm phát. - Tiêu chí về mức sống dân cƣ. - Tiêu chí về giáo dục, đào tạo.
- Tiêu chí về văn hóa, truyền thông, thông tin.v… b) Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đƣợc phê duyệt tại Quyết định số 2622/QĐ-Ttg ngày 31 tháng 12 năm 2013. Quy hoạch đƣợc xây dựng phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với việc xác định Quảng Ninh là cực tăng trƣởng, là cửa ngõ hợp tác kinh tế quốc tế, là nguồn nguyên liệu và năng lƣợng của quốc gia, quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh đã đƣợc xây dựng dựa trên việc đánh giá toàn bộ các yếu tố nguồn lực phát triển trong và ngoài tỉnh. Trong quy hoạch, tỉnh Quảng Ninh đã xác định rõ các định hƣớng phát triển 5 z của các ngành, các vùng, các lĩnh vực kinh tế - xã hội và đƣa ra các giải pháp thực hiện quy hoạch tổng thể.
Trong đó, đáng chú ý nhất là các giải pháp về: - Phát triển nguồn lực: huy động vốn đầu tƣ; sử dụng đất đai. - Khoa học, công nghệ, môi trƣờng. - Hợp tác vùng, quốc gia, quốc tế. c) Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 đƣợc xây dựng dựa trên việc đánh giá các điều kiện phát triển hiện nay của tỉnh Hà Tĩnh, bao gồm: - Tài nguyên thiên nhiên.
- Cơ sở hạ tầng vật chất. - Lao động và nguồn nhân lực. - Thực trạng các vấn đề phát triển xã hội. - Văn hóa, thể thao, du lịch.
- Dịch vụ xã hội. Từ đó, tỉnh Hà Tĩnh đã có những phân tích, đánh giá và xây dựng định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, bao gồm những nội dung chủ yếu nhƣ: - Định hƣớng phát triển các Cụm ngành trọng điểm: Cụm ngành sắt thép; cụm ngành nông nghiệp; cụm ngành thƣơng mại, vận tải, hậu cần; cụm ngành dệt may và may mặc; cụm ngành xây dựng; cụm ngành giáo dục đào tạo; cụm ngành y tế; v.v… - Định hƣớng bảo vệ môi trƣờng. - Định hƣớng phát triển cơ sở hạ tầng. - Định hƣớng phát triển theo lãnh thổ.
- Định hƣớng phát triển không gian và lãnh thổ theo khu vực. - Các chƣơng trình, dự án kêu gọi đầu tƣ. Đi cùng với những định hƣớng đó, tỉnh Hà Tĩnh đã xây dựng bộ giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh, bao gồm 6 z các giải pháp về: huy động vốn đầu tƣ, về nhân lực, về khoa học công nghệ, về hợp tác quốc tế, v.v… Tỉnh Hà Tĩnh tiến hành đánh giá việc triển khai thực hiện quy hoạch này trên thực tế dựa trên các tiêu chí về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội (tức là đánh giá hiệu quả đầu ra của quy hoạch). Những công trình khoa học (bài viết, luận án, luận văn) nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế địa phương a) Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Văn Nam, với tên đề tài: “Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An trong điều kiện đổi mới cơ chế kinh tế” (Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân).
Luận án của tiến sĩ Đoàn Văn Nam cũng đi theo hơi thở của việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội mà chính quyền các địa phƣơng thƣờng thực hiện. Tức là cũng tiếp cận đánh giá các tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An; phân tích và đánh giá những yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, từ đó, xây dựng các định hƣớng phát triển kinh tế xã hội cho từng vùng, từng lĩnh vực và đề xuất các giải pháp, kiến nghị điều kiện thực hiện quy hoạch. b) Bài viết: “Một số vấn đề về đổi mới phương pháp lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” của tác giả Nguyễn Thị Quế Chi - Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bắc Ninh. Bài viết đã chỉ rõ phƣơng pháp lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đƣợc đánh giá dựa trên 3 khía cạnh: phƣơng pháp xây dựng nội dung thuyết minh của bản kế hoạch, phƣơng pháp tính toán các chỉ tiêu và phƣơng pháp dự báo nhu cầu nguồn lực và dự toán ngân sách trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Theo tác giả, các phƣơng pháp này hiện đang còn tồn tại những khiếm khuyết nhất định. Cụ thể: Thứ nhất, phƣơng pháp xây dựng nội dung thuyết minh của bản kế hoạch vẫn còn nhiều hạn chế. Các bản kế hoạch cấp tỉnh phần lớn chƣa phát triển đầy đủ hệ thống thông tin cần thiết để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. Trong quá trình phân tích, đánh giá thực trạng chƣa có sự so sánh chéo với các địa phƣơng khác, hay so sánh tƣơng quan giữa các chỉ tiêu (thông qua hệ số co giãn…).
Thứ hai, phƣơng pháp tính toán các chỉ tiêu còn chƣa khoa học. Các chỉ tiêu kế hoạch là các chỉ tiêu định lƣợng, cần áp dụng các phƣơng pháp dự báo khoa học 7 z để tính toán. Tuy nhiên, thực tế ở hầu hết các địa phƣơng cho thấy các chỉ tiêu trong bản kế hoạch đều đƣợc đƣa ra dựa trên kinh nghiệm, so sánh năm trƣớc - năm sau. Thứ ba, còn nhiều hạn chế trong phƣơng pháp xác định các chỉ tiêu kế hoạch nên việc dự báo nhu cầu nguồn lực tài chính còn chƣa chính xác.
Chƣa có các hàm thể hiện mối tƣơng quan giữa các mục tiêu phát triển với nguồn lực tài chính. Tác giả bài viết khẳng định rằng, những tồn tại nêu trên đã dẫn tới một thực tế là danh mục các dự án kèm theo các bản kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mới chỉ dựa trên nguồn lực sẵn có, một vài nhu cầu cấp thiết của địa phƣơng mà chƣa trả lời đƣợc câu hỏi: các dự án có thực sự giải quyết đƣợc các vấn đề này không, dự án đã đƣợc thẩm định về lợi ích - chi phí, lợi ích kinh tế - xã hội chƣa, có phƣơng án nào giải quyết vấn đề mà không cần sử dụng tới ngân sách địa phƣơng hoặc sử dụng ít hơn không… Danh mục dự án cũng rơi vào tình trạng phải bổ sung, thay đổi nhiều lần do chƣa dự báo hết các nguồn lực cũng nhƣ chƣa bao phủ đƣợc hết các nhu cầu cấp thiết của địa phƣơng trong kỳ kế hoạch.