Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1. Vai trò của giao thông đô thị Ngành Quy hoạch đô thị có sứ mệnh quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kĩ thuật của đô thị. Nó đảm bảo những điều kiện cần thiết cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt và nghỉ ngơi của nhân dân. Và trong quy hoạch đô thị thì giao thông là một trong những vấn đề trọng yếu nhất.
Ta hãy thử hình dung một đô thị với các toà nhà, công trình hiện đại nhưng đường phố luôn luôn ngập úng và tắc nghẽn xe cộ thì rõ ràng giao thông đô thị đã không làm tốt vai trò của mình. Trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng của quy hoạch đô thị, thì giao thông có ảnh hưởng gần như quyết định đến việc bố trí chỗ ở, làm việc nghỉ ngơi và phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người dân. Khác với các điểm dân cư nông thôn, trong các đô thị mật độ xây dựng thường khá cao, vì vậy đường phố có nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện thông thường, chiếu sáng cũng như vệ sinh môi trường. Dọc theo các đường phố được bố trí các công trình công cộng, nhà ở, các tiểu cảnh kiến trúc và cây xanh.
Vẻ đẹp của đường phố chính là sự kết hợp hài hoà giữa công trình và không gian đường phố. Đó chính là cơ sở giúp cho con người cảm thụ được vẻ đẹp của đô thị. Trong đô thị hệ thống hạ tầng kĩ thuật như hệ thống cấp nước, thoát nước, cấp điện, cấp khí đốt, thông tin liên lạc đều được bố trí ở dưới đường, vì vậy ngoài chức năng giao thông đường đô thị còn là nơi đặt các hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị. Từ các đặc điểm nêu trên, đã từ lâu quy hoạch giao thông đô thị là một trong những lĩnh vực tổng hợp cần có sự phối hợp liên ngành.
a Ngày xưa các cụ ta có câu "Đường đi đến đâu là giàu đến đấy". Ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế cho thấy nơi nào có đầu tư hạ tầng kĩ thuật tốt nơi ấy sẽ thu hút đầu tư nhiêu hơn. Với vai trò quan trọng như thế người (a ví hệ thống đường đô thị như là bộ khung hay "hệ thống huyết mạch” của cơ thể con người. Khái niệm chung về giao thông đô thị 1.
Một số thuật ngữ thường dùng 1. Đô thị: Theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam, đô thị là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và dân cư đô thị nhỏ nhất là 4000 người (đối với miền núi là 2000 người) với tỉ lệ phì nông nghiệp trên 60%. Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn. Đường: Theo từ điển Ốc-phớt (Oxford-dictionary) thì đường là lối đi mà trên đó người súc vật hoặc xe cộ có thể đi chuyển giữa các địa điểm.
Ở Việt Nam đường là tên gọi chung của đường mòn, ngõ, hẻm, đường làng, đường huyện, đường tỉnh, đường quốc lộ, BHờNg cao tốc, đường thành phố v. đồng thời quản lí theo hệ thống hành chính. Đường Ô tô: Để phân biệt với đường nói chung, theo tiêu chuẩn Việt Nam chỉ để gọi các đường cho ô tô đi, vì vậy có tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô (TCVN 4054 : 1998). Đa số các nước phân loại đường ô tô theo chức năng, thường bao gồm bốn loại: đường địa phương hay đường khu vực, đường nhánh hay đường thu gom, đường huyết mạch, đường Hình 1-1: Đường ô tô ngoài đô thị cao tốc (hình 1-1) 4.
Đường đô thị: Đường đô thị là đường nằm trong phạm vi giới hạn xây dựng đô thị, do các cơ quan đô thị quản lí, khi thiết kế phải sử dụng tiêu chuẩn thiết kế đường thành phố (20 TCN 104: 1983. Đường phố: Đường phố là đường đô thị nhưng hai bên đường có các công trình kiến trúc bố trí liên tục như các công trình công cộng, cửa HN, nhàở hình 1-2) Hinh 1-2: Dubeiant Chia BạcXe (H0 Nội) 6. Lộ giới: Đường lộ giới là đường ranh giới giữa phần đất để xây dựng công trình và phần đất dành cho đường giao thông. Khái niệm này thường được dùng trong quy hoạch xây dựng vùng.
Chỉ giới đường đỏ: Chỉ giới đường đỏ là chỉ giới giữa phần đất dành cho đường giao thông bao gồm: phẩn đường xe chạy, dải phân cách, dải cây canh và hè đường (hình 1-3). 82 Chỉ giới XD - đườngđỗ 3 8s 5 =z S Đưởng phố. Hình 1-3: Chỉ giới đường đỏ 8. Chỉ giới xây dựng: Chỉ giới xây dựng là đường giới hạn cho phép xây dựng nhà, công trình trên lô đất dọc theo đường.
Trong thực tế chỉ giới xay dựng có thể:. - Trùng với chỉ giới đường đỏ nếu công trình được phép xây dựng sát chỉ giới đường đỏ (xem hình 1-3) ~ Lùi vào so với đường đỏ nếu công trình phải xây dựng lùi vào so với chỉ giới đường đỏ do yêu cầu của quy hoạch (hình 1-4). ath : 5 2 6 2 : gen s s $= Dormer lmmmmmmmm 7 Khoảng Khoảng. lùi Đường phố túi Hình 1-4: Chỉ giới xây dựng không tràng với đường đỏ 1.
Khái niệm về giao thông đô thị Thuật ngữ giao thông đô thị được hiểu là tập hợp các công trình, các phương tiện, các con đường đảm bảo sự liên hệ thuận lợi giữa các khu vực trong thành phố với nhau và giữa thành phố với các khu vực bên ngoài thành phố. Hay còn nói một cách khác đó là sự tương tác giữa các đối tượng vận động như người, xe cộ và các cấu trúc tĩnh tại (đường, đường phố) và các công trình giao thông như bến, bãi v. Hệ thống giao thông đô thị quyết định tới hình thái tổ chức không gian đô thị, hướng phát triển đô thị, cơ cấu tổ chức sử dụng đất đai đô thị và các mối quan hệ giữa các khu chức năng đô thị. Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, vị trí và tính chất của mối quan hệ giữa giao thông đô thị mà phân thành hai loại: - Giao thông đối ngoại; ~ Giao thông đối nội còn gọi là giao thông nội đô.
Giao thông đối ngoại Giao thông đối ngoại có thể hiểu một cách đơn giản là sự liên hệ giữa đô thị với bên ngoài, bao gồm giữa đô thị đó với các đô thị khác, với các khu công nghiệp, các khu nghỉ ngơi của các vùng phụ cận và giữa đô thị đó với các vùng trong cả nước. Căn cứ vào điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên và nhu cầu phục vụ giao thông của mỗi đô thị, giao thông đối ngoại của đô thị sử dụng các loại hình giao thông: đường ô tô, đường sắt, đường hàng không và đường thuỷ. Đường ô tô: Kể từ năm 1883 khi chiếc ô tô điện xuất hiện đầu tiên trên thế giới, đến nay ô tô đã trở thành phương tiện rất phổ biến, nó có tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới quá trình phát triển và liên hệ giữa các đô thị. Phương tiện ô tô có tính cơ động cao.
Chính vì vậy mạng lưới đường ô tô có khả năng tiếp cận thuận lợi với các độ thị trong những điều kiện địa hình khác nhau và lưu lượng vận tải không lớn. Trong thực tế tất cả các đô thị đều phải sử dụng đường ô tô đối ngoại. Đường sắt: Đường sắt thường được sử dụng để vận chuyển đường dài và có sức chuyên chở lớn. Giá thành vận chuyển rẻ hơn các loại giao thông khác.
Do vậy, nó giữ vị địa vị chủ yếu trong sự nghiệp giao thông vận tải. Đối với các đô thị đường sắt có quan hệ mật thiết và hỗ trợ đắc lực cho phát triển đô thị, it gay 6 nhiễm môi trường. Ngày nay giao thông đường sắt đã có những bước phát triển như vũ bão. Đường sắt cao tốc sẽ là xu thế chung của thế giới trong vận tải ở thế kỉ 21, với các tuyến tàu điện từ gia tốc, hệ thống giao thông đường ray dẫn hướng, đường sắt nhẹ v.
Đường thuỷ: Giao thông đường thuỷ có ưu điểm là khối lượng vận chuyền lớn, giá thành vận chuyển rẻ ở những thành phố gần sông, biển thì vận tải đường thuỷ là một yếu tố quan trọng,:cần được quan tâm trong quá trình thiết kế quy hoạch phát triển không gian đô thị. Giao thông đường thuỷ bao gồm đường sông và đường biển. Mối quan hệ giữa giao thông đường thuỷ với đô thị là những bến cảng. Các cảng sông, cảng biển là đầu mối quan 8 hệ giữa vận tải thuỷ và đường bộ nối liền với giao thông đối ngoại khác, nó là một bộ phận quan trọng của thành phố.
Vị trí của các cảng phải được xác định đồng thời với quy hoạch. Chỉ sau khi vị trí cảng được xác định, các yếu tố khác của thành phố mới tiến hành quy hoạch được hợp lí. Đối với cảng biển, tuỳ theo tính chất sử dụng có thể phân thành các loại cảng biển: ~ Cảng dân dựng (cảng hành khách và hàng hoá);. - Cảng đánh cá và cảng quân sự.
Đường hàng không: Giao thông hàng không có ưu điểm có tốc độ cao nhất, vận chuyển ở khoảng cách lớn nhưng chiếm ít thời gian. Ngày nay đang được phát triển mạnh để phục vụ nhu cầu đi lại giữa các vùng trong nước và trên thế giới. Đầu mối liên hệ giữa các thành phố với hệ thống đường hàng không là sân bay. Tuỳ theo chức năng phục vụ có thể phân loại sân bay như sau: + Sân bay dân dụng gồm sây bay hành khách, sân bay hàng hoá, sân bay thể thao; + Sân bay quân sự; # Sân bay phục vụ yêu cầu đặc biệt như phục vụ nông nghiệp, khảo-sát.
Do giá thành xây dựng và vận chuyển cao nên không phải đô thị nào cũng có cảng hàng không. Giao thông đối nội Giao thông đối nội là hệ thống giao thông bên trong đô thị còn gọi là giao thông nội thị có nhiệm vụ đảm bảo sự liên hệ thuận tiện giữa các khu vực bên trong đô thị với nhau cũng như với giao thông đối ngoại. Giao thông đối nội liên hệ với giao thông đối ngoại thông qua các đầu mối giao thông như các ngả giao nhau (cùng mức hoặc khác mức), bến xe ô tô liên tỉnh, ga xe lửa, bến cảng, sân bay. Sự phân bố hợp lí các đầu mối giao thông đối ngoại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giữa các khu vực của thành phố với bên ngoài, nó cũng là cơ sở để thành phố phát triển trong tương lai.