HỒ NGỌC HUNG TS. TONG NGOC TU - ThS. HO THU PHUONG QUY HOACH HE THONG GIAO THONG DO THI THUONG Oat HOC GIAO THONG VAN TAI ‘PHAN HIEU TAL THANH PHO HO CHI MINH THU VIEN 020766 NHÀ XUẤT. BẢN XÂY DỰNG HÀ NỘI - 2016 LOI NOI DAU Quy hoạch hệ thong giao thông đô thị là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng, đóng vai trò then chốt và có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác quy hoạch xây dựng và phái triển đô thị.
Quy hoạch mạng lưới đường đô thị hợp lý trên cơ sở tổ chức và sử dụng - các loại phương tiện giao thông công cộng cần thiết và phù hợp sẽ là tiền dé co ban để đáp ứng nhu cau vận chuyến, liên hệ an toàn và thuận tiện, giảm thiểu tai nạn và ách tắc giao thông. ` Đặc biệt, trong quá trình phái triển các đô thị, khi kích thước vật lý của đô thị ngày càng được mở rộng ra thì vai trò của công tác quy hoạch, tổ chức giao thông đô thị càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Dé dap ing noi dung của chương trình đào tao, chúng tôi biên soạn cuốn sách “Quy hoạch hệ thống giao thông đô thị” với mong muốn cung cấp cho sinh viên các ngành Kiến trúc, Quy hoạch đô thị, Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị, Kinh tế quản lý đô thị và các ngành công trình khác những kiến thức cơ bản về quy hoạch tổ chức siao thông đô thị. Sách có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đối tượng khác trong lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế và quản lý đô thị.
Nhóm tác giả xin cám ơn những ý kiến xây dựng của Bộ môn Quy hoạch. đồ thị, Bộ môn Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị và của các đồng nghiệp trong khoa Kiến trúc & Quy hoạch, trường Đại học Xây dụng. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của quý độc giả để nội dung cuốn sách ngày càng được hoàn thiện hơn. Nhóm tác giả - Chương KHÁI NIỆM CHUNG VÉ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.
VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG ĐÔ THỊ Giao thông đô thị (GTĐT) là tập hợp của mạng lưới đường, các công trình phục vụ giao thông và các loại phương tiện giao thông được sử dụng trong đô thị. GTĐÐT một mặt phải đảm bảo công tác vận chuyên và liên hệ thuận tiện, nhanh chóng giữa các bộ phận chức năng cơ bản của đô thị như nơi ở, nơi làm việc, khu nghỉ ngơi, giải trí và các trung tâm của đô thị với nhau, mặt khác phải đáp ứng các nhu cầu vận chuyển và liên hệ giữa đô thị với các điểm dân cư khác ở xung quanh. Có thể nói GTĐT là yếu tổ quan trọng, đảm bảo cho sự tổn tại và phát triển của các đô thị. Trong quá trình quy hoạch xây dựng đô thị, việc tăng quy mô dân số hay mở rộng kích thước vật lý của một đô thị cũng như việc sắp xếp, bố trí các bộ phận chức năng của đô thị đều phải dựa trên cơ sở tổ chức phục vụ của hệ thống giao thông đô thị, đặc biệt là loại phương tiện giao thông mà đô thị có thể sử dụng để vận chuyển.
Điều này được thê hiện rõ trọng mặt bằng quy hoạch của các đô thị qua từng giai đoạn khác nhau. Đối với các đô thị ra đời trong thời kỳ chưa có các phương tiện giao thông, liên hệ trong đô thị với tốc độ 4 kn/h của đôi chân thì kích thước của đô thị chỉ trong khoảng từ 2 - 3 km. Khi đô thị đã sử dụng các phương tiện giao thông có tốc độ từ 10 - 12 km/h như xe ngựa, xe đạp thì kích thước của đô thị đã được mở rộng đến 5 - 6 km. Đối với các đô thị hiện đại, khi phương tiện vận chuyển trong đô thị đã đạt vận tốc khai thác xấp xỉ 20 km/h thì kích thước của đô thị đã đạt tới 10 - 15 km.
Đặc biệt, với các đô thị có sử dụng các phương tiện giao thông có vận tốc khai thác 40- 50 km/h thi kích thước có thể đạt tới 40- 50 km với quy mô dân số hàng triệu và thậm chí hàng chục triệu dân (hình 1. Mối tương quan giữa vận tốc liên hệ với kích thước vật lý của đô thị Đặc điểm kinh tế - xã hội của các đô thị cũng vì thế mà có mỗi liên quan chặt chế đến hiệu quả của hệ thống giao thông đô thị. HIEU QUA CUA HE THONG GIAO THONG DO THI Đối với từng đô thị, ở mức độ khác nhau, hệ thống GTĐT luôn tạo ra những hiệu quả nhất định trong các lĩnh vực sau: - GTDT cho phép mở rộng phạm vi cung cấp nhân lực: Trong phạm vi đô thị, nếu không tổ chức được một mạng lưới GTĐT hop ly; dam bảo nhu cầu liên hệ nhanh chóng và thuận tiện thì tốc độ di chuyển chậm sẽ làm cản trở đến khả năng cung cấp nhân lực cho các trung tâm công nghiệp, các khu vực hành chính, dịch vụ. Kích thước của đô thị càng mở rộng thì vai trò của GIFĐTI cảng trở nên quan trọng bởi chính GTĐT là cơ sở để tăng khoảng cách đi lại từ nguồn đến.
Điều này cũng. đồng nghĩa với việc phạm vi cùng cấp nhân lực, phạm vi phục:vụ sẽ được mở rộng. - Hiệu quả do tiết kiệm thời gian ổi lại: Chỉ phí thời gian cho việc đi lại trong các đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào tốc độ của các loại phương tiện giao thông mà đô thị có thể sử dung. Đô thị càng lớn thì nhu cầu đi lại càng cao, chiều dài của chuyến đi càng lớn, nếu đô thị có được mạng lưới GIDT hợp lý, sử dụng được các phương tiện phủ hợp thì tổng thời gian tiết kiệm do đi lại là đáng kể, góp phần tạo ra tổng sản phẩm xã hội ` và tang thoi gian nghỉ.
ngơi, tái phục sức lao động cho người dân. - GT DT dam bao strc khée va an toan cho người dân: s An toàn giao thông gắn liền với hệ thống phương tiện và mạng lưới hạ tầng kỹ thuật giao thông. Hàng năm trên thế giới có.000 người thiệt mạng do tai nạn giao thông (TNGT). Xây dựng hệ thống GTĐT hợp lý sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm TNGT, đảm bảo an toàn cho người đi lại.
Những điều kiện tiện nghỉ tối thiểu của phương tiện vận chuyển luôn có ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe.của hành khách. - Bảo vệ môi trường đô thị - Quy hoạch, tổ chức GTĐT phải gắn liền với các giải pháp bảo vệ môi trường. Khi đô thị sử dụng các loại phương tiện giao thông hiện đại không chiếm diện tích đường, hoặc phương tiện sử dụng năng lượng sạch sẽ giúp hạn chế mật độ xe ô tô, xe máy, hạn chế được khối lượng lớn khí thải, chứa nhiều chất độc hại có ảnh hưởng tới môi trường sinh thái đô thị. - Dam bao trật tự, ổn định xã hội: Hiệu quả của hệ thống GTĐT trong lĩnh vực xã hội là hết sức to lớn và không thể tính hết được.
TĐT với chức năng dam bao nhu cầu đi lại thường xuyên của người - dân đô thị như đi làm, đi mua sắm,-thăm viếng. nếu công tác vận: chuyển của 6 GTĐT bị ách tắc thì ngoài thiệt hại về kinh tế còn dẫn đến ảnh: hưởng tiêu cực về tâm lý, trật tự, an toàn xã hội. - Vẫn đề giá thành chỉ phí cho vận chuyển và đi lai trong đô thị Giá thành có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân vì nhu cầu và số lần đi lại trong ngày của người dân rat lớn. Việc đi lại bằng phương tiện cá nhân nhưô tÔ con, xe máy, xe dap hay bằng các phương tiện vận tải công cộng có ảnh hưởng đáng kê đến chỉ phí của mỗi cá nhân, gia đình và của cả xã hội.
Ngoài việc đảm bảo nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân, hệ thống GTDT còn phải dam bảo tính hợp lý và hiệu quả thông qua việc giảm chỉ phí đầu tư và giảm giá thành chỉ phí cho vận chuyên và đi lại trong đô thị. PHAN LOAI GIAO THONG ĐÔ THỊ Tr ong công tác quy hoạch xây dựng đô thị, dé có được những nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể về quy hoạch và tổ chức giao thông, phủ hợp với nhiều lĩnh vực khác nhau của một một chỉnh thê thống nhất là đô thị, giao thong đô thị được phân loại theo nhiều đặc trưng khác nhau. Theo mối quan hệ của giao thông đối với đô thị Khi xem xét mối quan hệ giữa giao thông với đô thị, GTĐT được phân thành hai - mảng chính là giao thông đối ngoại và giao thông đối nội háảy còn gọi là giao thong nội thị. Giao thông đối ngoại bao gồm Các tuyến đường, các công trình đầu mối và những phương tiện được sử dụng để đảm bảo sự liên hệ giữa đô thị với bên ngoài và từ bên ngoài vào trong: đô thị.
Giao thông nội thị gồm các công trình, các tuyến đường và các phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển trong phạm vi của đô thị, đảm bảo nhu cầu liên hệ giữa các bộ phận cầu thành của đô thị với nhau. Cácvùng Các đồ thị : Các khu dân cư khác khác. khác Công trình Giao thông giao thông 'đối ngoại Giao thông Phương tiện nội thị giao thông ' Hình 1. Cấu trúc và mỗi quan hệ giữa giao thông đối ngoại và giao thông nội thị.
Trong vận tải đô thị, giao thông đối ngoại và giao thông đối nội là hai mảng độc lập, có chức năng khác nhau nhưng giữa hai mảng này có mối liên hệ hữu cơ với nhau và đòi hỏi phải có sự tô chức, đầu tư, phát triển đồng bộ để có được những sự hỗ trợ hợp lý và kịp thời trong công tác tô chức vận tải đô thị. Về cấu trúc và mối quan hệ giữa giao thông đối ngoại và giao thông nội thị có thể trình bày như ở hình 1. Theo đối tượng phục vụ Theo đối tượng phục vụ, GTĐT được chia làm 3 nhóm: giao thông hành khách, giao thông hàng hóa và giao thông chuyên dung. Giao thông hành khách có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân đô thị và gồm nhiều phương tiện khác nhau như ô tô buýt, xe điện bánh hơi, tàu điện, tàu điện ngầm (Metro), tàu điện nhẹ (LRT), tàu một ray (Monorail), xe » buyt nhanh (BRT), tau hỏa, ô tô con, mô tô, xe máy, xe đạp, đi bộ.
Giao thông hàng hóa có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, nhu yếu phẩm phục vụ cho đô thị, gồm ô tô tải các loại, các phương tiện chở hàng khác, xe thô sơ.