CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn kinh doanh là phạm trù luôn gắn liền với chủ thể Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của phát luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động nền tảng của doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp 3 yếu tố đầu vào: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Để có được ba yếu tố này, khi mới thành lập, doanh nghiệp phải ứng một lượng vốn tiền tệ ban đầu để hình thành nên các yếu tố này, lượng vốn tiền tệ đó chính là vốn kinh doanh ban đầu của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể bổ sung hoặc giảm bớt lượng vốn kinh doanh ban đầu của mình, tùy thuộc và tình hình hoạt động cũng như chính sách định hướng kinh doanh của từng doanh nghiệp. Như vậy có thể khẳng định, vốn là điều kiện cần, là nhân tố tiền đề và tiên quyết mà doanh nghiệp cần phải có để bắt đầu sản xuất kinh doanh.
Về mặt khái niệm, vốn kinh doanh có thể được hiểu như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng vốn kinh doanh Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận biết được các đặc trưng của vốn kinh doanh. Khi nghiên cứu về vốn kinh doanh, có thể Luan van 6 nhìn nhận ở trên nhiều góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản vốn kinh doanh mang những đặc trưng dưới đây: Một là, Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định. Hay nói cách khác vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp, không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại không thể có tài sản mà không có vốn.
Hai là, Vốn phải vận động sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến tiền thành vốn thì tiền đó phải vận động sinh lời. Trong quá trình vận động đó đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là biểu hiện giá trị bằng tiền. Đồng thời phải quay về điểm xuất phát với giá trị lớn hơn.
Đó cũng là nguyên lý đầu tư và bảo tồn vốn. Ba là, Vốn có thể tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau.Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà cả các tài sản vô hình như bằng sáng chế, lợi thế thương mại… Thứ tư, Vốn có giá trị về mặt thời gian. Tức là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau do sự thay đổi của các yếu tố như: lạm phát, lãi suất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ hội đầu tư, biến động giá cả, biến động chính trị… Thứ năm, Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được xem là một thứ hàng hóa đặc biệt. Những người cần vốn đến thị trường huy động vốn phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định cho người sở hữu nguồn vốn để được quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong từng loại vốn kinh doanh, ngoài những đặc điểm chung này còn có các đặc điểm riêng khác. Nhận thức đầy đủ những đặc trưng của vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Những đặc trưng trên là kim chỉ nam cho mọi vận động của vốn nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Phân loại vốn kinh doanh Luan van 7 1.
Căn cứ vào nội dung vật chất - Vốn thực (Vốn phi tài chính): Là toàn bộ tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất và dịch vụ khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu. Phần vốn này phản ánh hình thái vật thể của vốn. Nó tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh. - Vốn tài chính: Biểu hiện dưới dạng tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác.
Phần vốn này phản ánh phương diện tài chính của vốn, nó tham gia gián tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư. Căn cứ vào hình thái biểu hiện - Vốn hữu hình: Bao gồm tiền, các giấy tờ có giá và những tài sản biểu hiện bằng hiện vật khác như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu. - Vốn vô hình: Gồm giá trị những tài sản vô hình như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua bản quyền tác giả, nhãn hiệu thương mại. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển - Vốn ngắn hạn: Là loại vốn có thời hạn luân chuyển dưới một năm.
- Vốn trung hạn: Là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ 1 đến 3 năm. - Vốn dài hạn: Là loại vốn có thời hạn luân chuyển trên 3 năm. Căn cứ vào tính chất luân chuyển Vốn kinh doanh được chia thành 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động. * Vốn cố định: Để tiến hành sản xuất kinh doanh các đơn vị phải mua sắm, xây dựng tài sản cố định nên cần phải có một lượng vốn ứng trước để mua sắm xây dựng tài sản cố định hữu hình hoặc những tài sản cố định không có hình thái vật chất.
Vậy vốn cố định là lượng giá trị ứng trước để xây dựng, mua sắm tài sản cố định của Doanh nghiệp. Luan van 8 Đặc điểm của vốn cố định: - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. - Vốn cố định luân chuyển dần dần từng bộ phận giá trị vào sản phẩm (được phân bổ giá trị vào chi phí trong từng kỳ) cho đến khi hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển (vòng tuần hoàn vốn cố định). * Vốn lưu động: Để có được tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp nào cũng phải ứng ra một lượng giá trị nhất định để mua sắm tài sản ngắn hạn đó để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Như vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp là lượng giá trị ứng trước vào tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục. Đặc điểm của vốn lưu động: - Vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau như vốn ngắn hạn khâu dự trữ ( nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ…), khâu sản xuất (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm), khâu lưu thông (vốn bằng tiền, các khoản phải thu, vốn hàng hóa, vốn thành phẩm). - Đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và sẽ chuyển dịch toàn bộ giá trị vào sản phẩm sản xuất ra. - Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Nguồn hình thành Vốn kinh doanh. Trên thực tế hiện nay vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tùy theo từng tiêu thức phân loại mà nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau. Theo nguồn hình thành vốn Luan van 9 Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ sử dụng vốn của bản thân doanh nghiệp mà còn sử dụng các nguồn vốn khác, trong đó nguồn vốn vay đóng một vai trò khá quan trọng.
Do đó, nguồn vốn trong doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn sau: * Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều cách như trả bằng tiền, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch vụ , thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác, chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn nợ phải trả được thực hiện dưới các phương thức sau: - Tín dụng ngân hàng: Là các khoản mà doanh nghiệp vay của các ngân hàng thương mại hoặc của các tổ chức tín dụng khác. Tín dụng ngân hàng có nhiều dạng như tín dụng ứng trước, chiết khấu thương phiếu, tín dụng thuê mua.
- Tín dụng thương mại: Là các khoản doanh nghiệp chiếm dụng tạm thời từ các nhà cung cấp vật tư hàng hoá cho doanh nghiệp thông qua phương thức thanh toán trả chậm; người mua trả tiền trước. - Phát hành trái phiếu: Là hình thức huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu. Khi phát hành trái phiếu, công ty không những chịu lãi phải trả mỗi kỳ mà doanh nghiệp còn phải trả thêm chi phí phát hành trái phiếu. - Các khoản nợ tạm thời khác: Như phải trả người lao động, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, chi phí phải trả, các khoản chiếm dụng tạm thời của các đơn vị nội bộ.
* Nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện quyền sở hữu của người chủ về các tài sản của doanh nghiệp, là giá trị vốn của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn sau: Luan van 10 Một là, Từ khoản đóng góp của chủ sở hữu: - Nếu là doanh nghiệp Nhà nước vốn do ngân sách cấp. - Nếu là doanh nghiệp tư nhân vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra. - Nếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn vốn tự có do các cổ đông hay thành viên trong công ty góp vốn.
- Doanh nghiệp liên doanh: do các thành viên trong nước và nước ngoài thỏa thuận góp vốn. - Hợp tác xã: do các xã viên đóng góp Hai là, Vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh gồm: - Lợi nhuận chưa phân phối. - Chênh lệch do đánh giá lại tài sản. - Quỹ doanh nghiệp.
Theo thời gian huy động và sử dụng vốn Theo cách phân lại này nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời * Nguồn vốn thường xuyên: Bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn.