Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tài sản Nợ và quản trị tài sản Nợ của NHTM. Chương 2: Thực trạng quản trị tài sản Nợ tại chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long Chương 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị tài sản Nợ tại chi nhánh NHNo&PTNT THĂNG LONG. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN NỢ VÀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN TÀI SẢN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm ngân hàng Thƣơng mại Kinh doanh ngân hàng đƣợc biết đến từ thời xa xƣa, với những nghiệp vụ sơ khai ban đầu là nhận bảo quản, gìn giữ các loại tài sản quý nhƣ vàng, bạc, tiền, giây tờ có giá. Thời kỳ xa xƣa ấy, những ngƣời giàu có dƣ thừa của cải thƣờng tìm đến những nơi đƣợc coi là an toàn tin cậy nhƣ nhà thờ, tiệm kim hoàn …. để nhờ bảo quản tài sản cho mình. Do nhu cầu ngày càng tăng, dần dần trong xã hội hình thành những tổ chức thực hiện các nghiệp vụ đa dạng hơn nhƣ nhận bảo quản tài sản quý, đổi tiền, thanh toán , cho vay.
Đó cũng chính là mầm mống các tổ chức NHTM ngày nay. Cho đến nay, trên phƣơng diện học thuật, vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu tại các quốc gia trên thế giới về khái niệm NHTM. Tuy nhiên, có thể thấy cách tiếp cận khá phổ biến của các nhà nghiên cứu khi đƣa ra khái niệm NHTM đều xuất phát từ những nghiệp vụ truyền thống của nó nhƣ nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán [8]. Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tƣ, phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại mỗi nƣớc, mỗi thời kỳ có những quan niệm khác nhau [9] Chẳng hạn: Theo pháp luật nƣớc Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thƣơng mại sẽ đƣợc xem là một ngân hàng thƣơng mại. Một cách tiếp cận khác của Peter S.Rose cho thấy: Ngân hàng thƣơng mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá 10 thông qua vào ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức t ín dụng ngày 15/6/2004, định nghĩa: Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này cũng định nghĩa: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng, và định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán [11].
Nhƣ vậy, có thể quan niệm một cách tổng quát Ngân hàng thƣơng mại là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Tài sản Nợ của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về tài sản Nợ Tài sản Nợ của NHTM hay còn gọi là Nợ, tức là phần nguồn vốn tạo ra tài sản Có của ngân hàng thương mại. Nhƣ vậy khi ta nói tài sản Nợ của NHTM là nói đến các loại nguồn vốn tạo nên tổng tài sản của một NHTM.
Có hai quan điểm về tài sản Nợ của một NHTM. Thứ nhất, tài sản Nợ của NHTM chỉ bao gồm phần nợ mà NHTM đang vay mƣợn của các chủ thể khác trong nền kinh tế dƣới nhiều hình thức khác nhau, không bao gồm nguồn vốn tự có của NHTM đó. Quan điểm này có ƣu thế là nó phân biệt rõ trong nguồn hình thành tài sản của NHTM có hai nguồn rõ rệt, đó là nguồn vốn do các chủ sở hữu góp vào, kể cả bộ phận tích lũy do quá trình kinh doanh tạo ra và nguồn thứ hai là nguồn do NHTM vay, muợn, tức là nợ của ngân hang [9]. Thứ hai, tài sản Nợ của NHTM bao gồm cả nguồn vốn tự có và nguồn vốn đi vay của các ngân hàng thƣơng mại.
Theo quan điểm này thì việc quản trị tài sản Nợ bao gồm cả quản trị vốn tự có của NHTM và quản trị các nguồn đi vay của NHTM. Quan điểm này có ƣu thế là khi nói đến quản trị tài sản Nợ là ta nói đến quản trị toàn bộ nguồn vốn tạo ra tài sản của NHTM, và giữa chúng luôn có mối quan hệ khắng khít với nhau. Đồng thời nó cần có một cơ cấu hợp lý, thì hiệu quả kinh doanh mới có thể đạt tối ƣu đƣợc. Trong luận văn này, đối với NHTM nói chung phân tích đánh giá theo quan điểm 2.
Đối với NHNo&PTNTTHĂNG LONG, với điều kiện thực tế hoạt động kinh doanh của chi nhánh là chi nhánh cấp 1, hạch toán phụ thuộc của NHNo&PTNTVN, nên phần quản trị Vốn chủ sở hữu do NHNo&PTNTVN đảm nhiệm; vì vậy học viên dựa trên quan điểm thứ 1 để phân tích đánh giá thực trạng và đƣa ra các giải pháp khắc phục những vấn đề tồn tại trong công tác quản trị tài sản Nợ của NHNo&PTNTTHĂNG LONG. Tài sản Nợ hay nguồn vốn của NHTM có vai trò rất quan trọng trong kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại. Vì các NHTM kinh doanh chủ yếu là cấp tín dụng, hiện nay các NHTM Việt Nam đƣợc sử dụng tối đa 85% nguồn vốn huy động để cho vay. Quy mô, cơ cấu, chất lƣợng tín dụng của một NHTM lệ thuộc vào quy mô, cơ cấu, chất lƣợng nguồn vốn mà NHTM đó tạo ra đƣợc.
Ngày nay, nhiều khi để có nguồn vốn kinh doanh các NHTM cạnh tranh với nhau gay gắt, đẩy lãi suất tiền gửi thị trƣờng tăng lên. Để có đƣợc khách hàng cung ứng nguồn vốn cho mình các NHTM còn phải cạnh tranh với nhau, bằng cách đƣa ra nhiều sản phẩm huy động vốn có nhiều ƣu việt hơn, thỏa mãn nhiều nhu cầu của khách hàng hơn. Điều đó cũng làm cho sản phẩm huy động nguồn vốn ở các NHTM ngày một đa dạng hơn, chất lƣợng hơn [21], [22]. Nhìn chung, các NHTM kinh doanh bằng cách bán các tài sản Nợ và dùng tiền thu đƣợc để mua những tài sản Có.
Nói một cách khác, các NHTM cung cấp dịch vụ chuyển một loại tài sản này Nợ thành một loại tài sản Có khác cho công chúng và các doanh nghiệp. Nhƣ vậy hoạt động cơ bản của một NHTM là làm cho tài sản Có và tài sản Nợ phù hợp với nhu cầu của khách hàng, kinh doanh phải có lãi và không bị mất vốn. Theo cấu trúc tài sản Nợ, ta có công thức: Tổng tài sản Nợ = Tổng nợ + Vốn tự có của ngân hàng NHTM nào tạo ra đƣợc những dịch vụ tốt với chi phí thấp, doanh thu cao do tài sản Có đem lại, thì ngân hàng đó thu đƣợc nhiều lợi nhuận, nếu không thực hiện đƣợc nhƣ vậy thì ngân hàng này sẽ không có lãi hoặc phải chịu lỗ. Tóm lại, tài sản Nợ là nguồn vốn kinh doanh của NHTM.
Trong tài sản Nợ, tiền gửi là nguồn vốn vay mƣợn chủ yếu, chiếm trên dƣới 75% toàn bộ tài sản Nợ của NHTM, các nguồn vốn khác gồm có: vốn vay trên thị trƣờng liên ngân hàng, vốn phát hành chứng chỉ tiền gửi, vốn vay tái chiết khấu của NH chiếm một tỷ lệ thấp hơn [17]. Nội dung tài sản nợ * Ngoài vốn tự có, NHTM có những tài sản nợ chủ yếu sau đây : Một là, vốn huy động của NHTM Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà NHTM đang tạm thời quản trị và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Thực chất đây là nguồn vốn NHTM đi vay của các chủ thể khác trong nền kinh tế để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất đối với bất kỳ một NHTM nào.
Chỉ có các NHTM mới đƣợc quyền huy động vốn dƣới nhiều hình thức khác nhau. Trong quá trình hình thành, khai thác sử dụng hay nói cách khác là quá trình quản trị nguồn có vị trí đặc biệt quan trọng này, cần tìm hiểu và nắm đƣợc những đặc điểm chủ yếu của nó [18], [19]. - Trƣớc hết xét về phƣơng diện tỷ trọng của nguồn vốn cấu thành trong tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh của NHTM thì vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất. Điều này có thể lý giải từ nguyên lý kinh doanh của NHTM là "đi vay” để “cho vay".
Chính nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận trong kinh doanh của NHTM cũng từ đây mà ra. Vốn huy động, về mặt lý thuyết là một nguồn vốn không ổn định. Sự biến động của nó phụ thuộc nhiều vào các nhân tố chủ quan và khách quan. Khách hàng có thể gửi hoặc rút tiền của họ bất kỳ khi nào họ cần, ngoài dự kiến của ngân hàng.
Chính vì đặc điểm này, trong quá trình quản trị vốn huy động các NHTM cần phải duy trì một khoản "dự trữ thanh khoản" để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. - Có chi phí sử dụng vốn tƣơng đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. - Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM. - Vốn huy động, chỉ đƣợc sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các NHTM không đƣợc sử dụng nguồn vốn này để đầu tƣ.
Những nguồn vốn mà các NHTM có thể huy động để hình thành nên tài sản Nợ của mình bao gồm: Tiền gửi của dân cư và các tổ chức Tiền gửi của dân cƣ và các tổ chức là nguồn vốn quan trọng nhất tạo nên nguồn vốn hoạt động của các NHTM. Nó bao gồm: + Tiền gửi không kỳ hạn Là loại tiền gửi mà dân cƣ hoặc các tổ chức gửi vào trong các NHTM, không xác định thời hạn ngƣời gửi rút tiền ra, nghĩa là có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào họ muốn.