đặt vấn đề về hàng tồn kho trong bài viết ―Giải quyết hàng tồn kho: Cần giải pháp nào?”. Tác giả cho rằng hai vấn đề hàng tồn kho và nợ xấu của DN là những nguyên nhân chính làm tắc nghẽn dòng vốn phục vụ SXKD của DN, dẫn đến làm cạn kiệt vốn lưu động. Do đó cần phải đưa ra giải pháp để giải quyết hàng tồn kho. 8 * Quản trị khoản phải thu Nội dung tiếp theo được thảo luận trong các nghiên cứu về quản trị TSNH là quản trị các khoản phải thu.
Với chủ đề nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của quả trị khoản phải thu trong DN như: chính sách tín dụng thương mại của DN, mối quan hệ giữa quản trị khoản phải thu và hiệu quả hoạt động của DN. Dưới đây là tóm lược nội dung của một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến quản trị khoản phải thu trong DN: Shehzad L. Mian và cộng sự (1992) trong nghiên cứu ―Chính sách quản trị khoản phải thu - lý thuyết và thực tiễn‖ đã phát triển và kiểm định các giả thuyết về sự lựa chọn các chính sách quản trị khoản phải thu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô, sự tập trung, tiêu chuẩn tín dụng thương mại của DN là những yếu tố quan trọng giải thích quy mô khoản phải thu của DN.
Anastasia Nwakaego Duru; Michael Chidiebere Ekwe và Innocent Ikechukwu Okpe trong nghiên cứu ―Quản trị khoản phải thu và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống: bằng chứng từ Nigeria‖ đã xem xét tác động của việc quản lý các khoản phải thu đối với lợi nhuận của các công ty sản xuất thực phẩm và đồ uống ở Nigeria. Kết quả nghiên cứu cho thấy các khoản phải thu có mối quan hệ ngược chiều và không có ý nghĩa thống kê với khả năng sinh lời, trong khi nợ có mối quan hệ thuận chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê với khả năng sinh lời của thực phẩm và đồ uống ở Nigeria. Ngoài ra tăng trưởng doanh số có mối quan hệ thuận chiều và không có ý nghĩa thống kê với lợi nhuận của doanh nghiệp. Francis Kakeeto, Timbirimu Micheal và cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên cứu ―Quản trị khoản phải thu và khả năng sinh lời của Công ty cà phê Gumutindo (GCCE), quận Mbale Uganda‖ (2016).
Nghiên cứu này nhằm khám phá ảnh hưởng của quản trị khoản phải thu đối với khả năng sinh lời của tổ chức. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc quản trị các khoản phải thu ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của tổ chức. Nghiên cứu kết luận rằng, việc quản lý các khoản phải thu tại công ty GCCE là phù hợp. Thêm vào đó, tác giả đề xuất các khuyến nghị để tăng cường quản lý tốt hơn các khoản phải thu tại công ty GCCE.
Waititu và Geoffrey M. Gekara (2014) trong nghiên cứu ―Các tác động của chính sách tín dụng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất tại Kenya‖ đã xem xét tác động của chính sách tín dụng đối với lợi nhuận của các công ty sản xuất ở Kenya. Nghiên cứu đã xem xét các yếu tố cấu thành chính sách tín dụng như: thời hạn tín dụng, nỗ lực thu nợ và tiêu chuẩn tín dụng. Kết quả cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa lợi nhuận và chính sách tín dụng trong các doanh nghiệp sản xuất ở Kenya.
Từ đó, nhóm tác giả đưa ra khuyến nghị các nhà quản lý 9 tài chính của các công ty sản xuất nên thường xuyên xem xét lại chính sách tín dụng để đảm bảo các chính sách này là hợp lý để đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận. Thứ hai, các nghiên cứu đa biến về các yếu tố quyết định đến quản trị TSNH Bên cạnh việc nghiên cứu nội dung quản trị từng khoản mục TS trong TSNH, các nhà nghiên cứu cũng đã xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị TSNH bằng cách sử dụng kết hợp nhiều yếu tố ảnh hưởng, các đặc điểm cụ thể của DN và các điều kiện kinh tế như: dòng tiền, đòn bẩy tài chính, quy mô DN, tuổi DN, tổng TS, GDP, tỷ lệ lãi suất…. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều biến giải thích để kiểm tra tác động của chúng đối với TSNH, các biến giải thích phổ biến nhất là dòng tiền, đòn bẩy, tăng trưởng doanh số và quy mô. Sau đây là tóm tắt một số nghiên cứu nổi bật: Hàng Lê Cẩm Phương và Phạm Ngọc Thúy (2007) trong Bài viết ―Quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp nhựa Thành phố Hồ Chí Minh‖ đã phân tích hiện trạng quản lý vốn lưu động trên hai phương diện chính: (1) Khảo sát thực trạng về chính sách vốn lưu động của các doanh nghiệp, (2) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tài sản lưu động của các doanh nghiệp nhựa thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu trên mẫu 96 doanh nghiệp ngành nhựa cho thấy hiện có 75% doanh nghiệp nhựa có xây dựng chính sách vốn lưu động, thể hiện mức độ quan tâm cần thiết của doanh nghiệp đối với vấn đề quản lý doanh nghiệp. Mức đầu tư tài sản lưu động của những doanh nghiệp được khảo sát chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: quan điểm nhà quản lý, mục tiêu kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tín dụng khách hàng và chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Guerard và cộng sự (2007) ―Tài chính doanh nghiệp định lượng‖ đã khẳng định lượng vốn lưu động mà một công ty cần có phụ thuộc vào khối lượng bán hàng, nhu cầu về tổng vốn lưu thông của công ty so với khối lượng bán hàng và sự ổn định của hoạt động. Tỷ lệ lợi nhuận của công ty có thể tăng lên bằng cách tiết kiệm chi phí sử dụng vốn lưu động.
Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến rủi ro gia tăng cho công ty về rủi ro tài chính ngắn hạn. Thêm vào đó, các công ty có dòng tiền mặt ổn định, có thể dự đoán được dòng tiền vào, tài sản ngắn hạn hiện tại có thể bán được ổn định về giá trị sẽ có nhu cầu TSNH thấp hơn. Ngược lại, các công ty có dòng tiền biến động bất thường và không dự đoán được, hàng tồn kho luân chuyển chậm, giá cả thị trường biến động hoặc các công ty do bản chất kinh doanh của họ có rủi ro tín dụng cao có nhu cầu TSNH cao hơn. Tác giả Muhammad Mehtab Azeem và cộng sự (2015) trong nghiên cứu ―Các yếu tố quyết định đến quản trị vốn lưu động‖ đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động đối với 385 công ty Pakistan được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Karachi, đồng thời tìm hiểu mối quan hệ giữa vốn lưu động và các yếu tố khác nhau như quy mô, đòn bẩy, tăng trưởng kinh tế, v.
Kết quả nghiên cứu cho 10 thấy chu kỳ hoạt động, lợi nhuận trên TS, đòn bẩy, quy mô và mức độ hoạt động kinh tế có ảnh hưởng ngược chiều đến nhu cầu vốn lưu động của DN trong khi dòng tiền hoạt động và tăng trưởng doanh thu có ảnh hưởng thuận chiều đến nhu cầu vốn lưu động. Appuhami (2008) đã thảo luận về vấn đề tác động của chi phí vốn đối với quản trị vốn lưu động trong nghiên cứu ―Tác động của chi phí vốn đến quản trị vốn lưu động: nghiên cứu thực nghiệm ở các ngành công nghiệp tại Thái Lan‖ bằng cách sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2000-2005 của các công ty Thái Lan. Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện thông qua phân tích hồi quy bội và nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng chi tiêu vốn có tác động đáng kể đến quản trị vốn lưu động. Thêm vào đó, tác giả cũng kết luận các dòng tiền hoạt động của công ty có liên quan đáng kể với quản trị vốn lưu động.
Luận án ―Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Australia‖ của tác giả Yilang Zhao (2011) đã tiến hành nghiên cứu các khía cạnh trong quản trị TSNH tại các DN Úc. Luận án đã cho thấy các yếu tố cơ bản như quy mô DN, hiệu quả hoạt động của công ty, xếp hạng tín dụng, ngành công nghiệp và giáo dục, giới tính và tuổi của người quản lý vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong quản trị TSNH. Công trình nghiên cứu của tác giả đã có đóng góp lớn trong nghiên cứu khía cạnh hành vi của các nhà quản trị vốn lưu động. Căn cứ vào đó, tác giả đề xuất các đặc điểm cần có của nhà quản trị vốn lưu động hiệu quả.
Nghiên cứu về tác động của quản trị tài sản ngắn hạn đến khả năng sinh lời và rủi ro của doanh nghiệp Khám phá mối quan hệ giữa TSNH và khả năng sinh lời và rủi ro của DN là lĩnh vực nghiên cứu phổ biến và quan trọng nhất trong quản trị TSNH. Những nghiên cứu này góp phần giải thích các yếu tố quyết định khả năng sinh lợi và rủi ro của DN từ góc nhìn của quản trị TSNH, từ đó gợi ý cho nhà quản trị có những biện pháp phù hợp tác động đến giá trị DN. Dưới đây là tóm tắt một số nghiên cứu trong và ngoài nước tiêu biểu có liên quan. * Về tác động của quản trị TSNH đến khả năng sinh lợi của DN Deloof (2003) trong nghiên cứu ―Liệu quản trị vốn lưu động có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các DN Bỉ hay không?‖ đã tìm ra mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa doanh thu từ hoạt động SXKD và kỳ thu tiền, số ngày của hàng tồn kho cũng như kỳ trả tiền của các DN Bỉ.
Eljelly (2004) trong nghiên cứu ―Mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của DN trên thị trường mới nổi‖ đã tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lời của các DN và tính thanh khoản của chúng, được đo lường thông qua hệ số thanh toán ngắn hạn. Mối quan hệ này càng trở nên rõ rệt với những DN có hệ số thanh toán ngắn hạn cao và chu kỳ chuyển hoá tiền mặt dài. 11 Padachi (2006) trong nghiên cứu ―Xu hướng trong quản trị TSNH và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động của DN: Nghiên cứu trường hợp các DN nhỏ ở Mauritian‖ cho thấy khoản phải thu, khoản phải trả, chu kỳ luân chuyển tiền có mối liên hệ ngược chiều với ROA. Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa hàng tồn kho và khả năng sinh lợi là không có ý nghĩa đáng kể.