Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam. Chương 3: Giải pháp giúp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 1. Khái niệm, phân loại rủi ro trong hoạt động tín dụng 1. Rủi ro trong hoạt động tín dụng Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra khoản thu nhập cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảyra.
Chính vì vậy, khái niệm rủi ro tín dụng được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra những ý kiến khác nhau, tiêu biểunhư: Theo Joel Bessic (2016): “Rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay.” Theo Nguyễn Văn Tiến (2010): “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng kì hạn.” Theo Hồ Diệu (2002): “Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc không hoàn trả gốc so với thời gian ấn định trong hợp đồng tín dụng.” Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín 6 dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Những khái niệm trên đều chứa đựng cách hiểu chung nhất về rủi ro tín dụng đối với một khoản tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã kí giữa ngân hàng và khách hàng. Ở nước ta, khái niệm rủi ro tín dụng được phản ánh qua thông tư 02/2016/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng còn được xem xét trên cơ sở danh mục tín dụng của ngân hàng và được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất của ngân hàng khi không thu hồi đầy đủ số tiền gốc và lãi của danh mục như dự kiến. Danh mục tín dụng sẽ có nguy cơ bị tổn thất cao nếu ngân hàng quá tập trung cho vay một ngành, lĩnh vực, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hay cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Bản chất rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Mặc dù rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng cho ngân hàng càng lớn nhưng khi thực hiện một hoạt động tài trợ vốn cụ thể cho khách hàng, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn của khoản vay là cao nhất và ngân hàng chỉ quyết định cấp tín dụng khi thấy rằng 7 rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra, khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, cộng thêm nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thích đáng nên trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là khách quan và không thể tránh khỏi. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội sử dụng vốn của khách hàng dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận.
Nhiều quan điểm nhất trí rằng rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. Các sản phẩm cho vay KHCN Cho vay mua ô tô tiêu dùng Cho vay mua/nhận chuyển nhượng bất động sản Cho vay sửa chữa/ xây dựng mới nhà ở Cho vay mua/ nhận chuyển nhượng bất động sản dự án Cho vay du học Cho vay KHCN có TSBĐ Cho vay tín chấp tiêu dùng Cho vay cầm cố giấy tờ có giá Và một số sản phẩm cho vay KHCN khác đang triển khai tại các NHTM cụ thể tại Việt Nam 1. Phân loại rủi ro trong hoạt động tín dụng - Phân loại rủi ro tín dụng theo mức tổn thất Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí 8 do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát; giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi. Rủi ro đọng vốn: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: (i) Ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng; (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng. - Phân loại rủi ro tín dụng theo phạm vi RRTD cá biệt: Là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân: (i) Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; (ii) Tình hình tài chính của khách hàng; (iii) Khả năng quản trị của khách hàng; (iv) Đạo đức khách hàng; (v) Các nguyên nhân khác.
RRTD hệ thống: Là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: Sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu. Chỉ tiêu cơ bản đo lƣờng rủi ro trong hoạt động tín dụng Để đo lường rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang phải đối mặt, ngân hàng thường tính toán các chỉ tiêu sau: - Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ = Tổng dư nợ Nợ quá hạn là nợ đến hạn mà khách hàng không trả được nợ, phản ánh các khoản nợ mà ngân hàng không thu được đúng hạn (tổn thất của ngân hàng). Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn.
- Tỷ lệ nợ rủi ro trên tổng dư nợ 9 Nợ rủi ro Tỷ lệ nợ rủi ro trên tổng dư nợ = Tổng dư nợ Nợ rủi ro là nợ của những khách hàng được đánh giá có dấu hiệu khó khăn về khả năng trả nợ hoặc đã không trả được nợ đúng hạn (nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5). Các khoản nợ này có thể là nợ trong hạn, các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ trong hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thời hạn và nợ quá hạn. Tỷ lệ trên càng cao thì rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn. - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ = Tổng dư nợ Nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, là những khoản nợ mà khả năng trả nợ của khách hàng không còn cao (phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhiều lần, nợ quá hạn lâu ngày không trả).
Tỷ lệ nợ rủi ro và tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng mà ngân hàng đặc biệt phải quan tâm. Nợ rủi ro và nợ xấu cao thể hiện khả năng thu lại các khoản cho vay sẽ gặp khó khăn đòi hỏi ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Nợ có tài sản đảm bảo Tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo = trên tổng dư nợ Tổng dư nợ Tỷ lệ này cho biết tỷ trọng những món nợ có đảm bảo bằng tài sản trong tổng dư nợ. Tài sản đảm bảo không chỉ là động cơ khuyến khích hàng trả nợ đúng hạn để không bị thanh lý tài sản, mà còn là nguồn bù đắp tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng trách nhiệm của mình theo hợp đồng tín dụng.
Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng của ngân hàng 10 càng thấp. - Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng= Tổng dư nợ Tỷ lệ này nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản vay bị tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tín dụng hàng năm từ thu nhập của ngân hàng. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng dựa trên kết quả phân loại toàn bộ danh mục tín dụng của ngân hàng thành các nhóm nợ khác nhau và tỷ lệ trích tăng dần theo mức độ rủi ro. Tỷ lệ này cao thể hiện mức độ rủi ro tín dụng của toàn bộ danh mục tín dụng lớn.