CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RRTD VÀ QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm về RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp a. Khái niệm RRTD “Rủi ro” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách thức khác nhau.
Allan Willett (1963) cho rằng: “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi", Frank Knight (1962), một học giả người Mỹ, đầu thế kỷ XX định nghĩa “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được". Inrving Perfer (1964) thì “rủi ro là tổng hợp của những ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”. Một học giả người Anh là Marilic Hurt Mr Carty (1964) quan niệm “rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”. Theo ông kinh nghiệm hoạt động của một doanh nghiệp có thể cung cấp chứng cứ của tần số các biến cố riêng biệt trong quá khứ và do đó cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được phân bố xác suất xuất hiện các biến cố trong tương lai.
Bernard Manso, “Rủi ro là ảnh hưởng do các biến cố xảy ra trong tương lai lên danh mục tài sản hay giá trị ròng của một chủ thể kinh tế mà nguy cơ xảy ra sự cố trên hoàn toàn đoán trước được nhưng không thể dự đoán đúng biến cố xảy ra như thế nào”.H Collin (1964), “RR có thể được định nghĩa là khả năng gánh chịu một thiệt hại của chủ thể”. Theo quan điểm của các học giả Mỹ Frank Knight (1962), “RR là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”. Rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của chủ thể và mức lợi nhuận dự kiến. Mức biến động lợi nhuận càng lớn nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro cao.
Còn tài liệu “Financial Institutions Management - A modern perspective", 11 A.Lange (2005) định nghĩa “RRTD là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng (doanh nghiệp), nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Ở Việt Nam, căn cứ Khoản 1, Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2016 của Thống đốc NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết". Quy định của NHNN, căn cứ phân loại và trích lập dự phòng là RRTD, xác định bằng kết quả xếp hạng tín nhiệm hoặc thời gian quá hạn của khoản vay. Trên thực tế, cách thứ hai được lựa chọn phổ biến hơn.
Trên thực tế, các loại rủi ro có mối quan hệ qua lại với nhau rất phức tạp. Ví dụ, khi RRTD xảy ra, khách hàng doanh nghiệp không trả được nợ rất có thể kéo theo rủi ro thanh khoản do ngân hàng thiếu hụt nguồn cung thanh khoản, sự chênh lệch quá lớn giữa kỳ hạn của tài sản có nhạy cảm với lãi suất với tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất có thể làm ngân hàng lại chịu rủi ro lãi suất lớn; hoặc các RRTD xảy ra với các khoản vay bằng ngoại tệ có thể liên quan tới rủi ro tỷ giá; với các NHTM Cổ phần có cổ phiếu được phát hành ra công chúng thì RRTD còn ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu và uy tín của ngân hàng trên thị trường. Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng vừa có tính độc lập vừa có sự liên kết chặt chẽ với nhau, thậm chí có những nội dung bao trùm lên nhau. Điều này có nghĩa, khi một loại rủi ro xảy ra sẽ kéo theo các rủi ro khác xảy ra.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu RRTD phải đặt nó trong mối tương quan với các loại rủi ro khác của hoạt động ngân hàng, từ đó mới có được cái nhìn tổng thể, nâng cao được hiệu quả của hoạt động quản trị RRTD nói riêng và quản trị rủi 12 ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung. Từ những cơ sở lý luận nền tảng trên, có thể thấy tổng quát RRTD đối với doanh nghiệp là: Khả năng có thể xảy ra tổn thất trong hoạt động mà NHTM cho vay khách hàng là doanh nghiệp. Khả năng và đo lường RRTD đối với doanh nghiệp là cao hơn nhiều so với các đối tượng cho vay khác như: cho vay tiêu dùng, cho vay chứng minh khả năng tài chính du học,. Trong đó, doanh nghiệp trong các ngành nghề có lợi nhuận cao thường rủi ro cao và đặc biết có những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực lợi nhuận thấp như trồng trọt, chăn nuôi chế biến nông sản do ảnh hưởng và tác động của khí hậu, thời tiết và thị trưởng tiêu thụ cũng như dịch bệnh.
Như vậy, các định nghĩa về RRTD đối với doanh nghiệp tuy có khác nhưng đều thống nhất ở một nội dung coi RRTD là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được, là loại rủi ro dẫn đến tổn thất cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng là doanh nghiệp được cấp tín dụng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Phân loại RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng khá đa dạng và phức tạp. Do đó, tùy thuộc vào mục đích quản lý, nghiên cứu, tiêu chí mà được phân loại theo các cách khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro (Trần Thị Xuân Anh, 2011) gồm có: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD trong cho vay KHDN mà nguyên nhân phát sinh là những yếu kém trong quá trình xét duyệt và giao dịch cho vay.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro nghiệp vụ, rủi ro bảo đảm và rủi ro lựa chọn. 13 Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn của doanh nghiệp có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản bảo đảm. Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi doanh nghiệp đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng doanh nghiệp vay vốn. Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng doanh nghiệp, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp (Trần Thị Xuân Anh, 2011) Rủi ro đọng vốn: Đây là rủi ro khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng doanh nghiệp phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ vay, ngân hàng không thu hồi lại được 14 vốn. Điều này ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn vay của ngân hàng đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư của Ngân hàng làm cho Ngân hàng mất đi nguồn thu mới. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra khi khách hàng doanh nghiệp mất khả năng trả nợ cho ngân hàng làm cho ngân hàng tăng chi phí do phải trích lập dự phòng rủi ro, chi phí cho việc thu hồi nợ, dòng tiền của ngân hàng bị giảm sút, doanh thu giảm.
Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của các ngân hàng như bảo lãnh, cam kết chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng. Phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD Phan Thị Thu Hà (2013) thì “Phân loại nợ là việc các tổ chức tín dụng căn cứ vào các tiêu chuẩn của định tính và định lượng để có thể đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và các cam kết ngoại bảng, trên cơ sở đó có thể giúp Ngân hàng phân loại và theo dõi các khoản nợ một cách chi tiết nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro của các tổ chức tín dụng”. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), hiện nay trên thế giới có xu hướng phân chia nợ thành 5 nhóm như sau: * Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Đây là nhóm nợ mà ngân hàng có khả năng thực hiện thu hồi được cả lãi và gốc theo thời hạn cho vay. * Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Là nhóm nợ quá hạn dưới 90 ngày và cơ cấu lại thời gian trả nợ.
* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Là nhóm nợ quá hạn từ 90-180 ngày và cơ cấu lại thời hạn trả quá hạn dưới 90 ngày. * Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Là nhóm nợ quá hạn 181 – 360 ngày và nợ cơ cấu lại có thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 - 180 ngày. 15 * Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Là nhóm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. Nợ xấu là những nhóm nợ khó đòi thuộc nhóm 3,4 và 5.