mở đầu cho chu kỳ lạm phát mới, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp và các doanh nghiệp sẽ ngần ngại vay vốn để mở rộng sản xuất. RRTD còn 11 gây tâm lý hoang mang cho quần chúng, khiến họ giảm lòng tin vào sự lành mạnh và vững chắc của hệ thống tài chính quốc gia, vào chính sách tiền tệ của nhà nước, dẫn đến quyết định tiêu dùng và tích luỹ cho đầu tư không hiệu quả. Ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy, chỉ cần hệ thống ngân hàng của một quốc gia gặp khó khăn cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu.
Ảnh hƣởng đối với khách hàng Những khoản nợ do không trả gốc và lãi đúng hạn bị chuyển xuống nhóm nợ khác sẽ càng tăng thêm áp lực và gánh nặng cho người đi vay. Nếu RRTD xảy ra nhiều các ngân hàng sẽ thắt chặt quy trình tín dụng hơn, khiến cho thủ tục cấp vốn ngày một thêm phức tạp, tốn thời gian và khách hàng khó tiếp cận nguồn vốn hơn. Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Quản trị RRTD là một quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy với các công cụ thích hợp để ngăn ngừa và hạn chế tối đa việc không thu hồi được nợ.
Ngân hàng đưa ra các chính sách, chiến lược xác định lợi nhuận kỳ vọng và mức rủi ro tương ứng và có các kế hoạch phương hướng triển khai, thủ tục cụ thể cần thiết để nhận diện, đo lường, ứng phó và kiểm soát, xử lý RRTD để có hiệu quả nhất. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng 1. Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng Chính sách tín dụng vừa là văn bản chỉ đạo hoạt động và hướng dẫn tín dụng hằng ngày, vừa là phương thức để quản trị RRTD đang được các ngân hàng triển khai hiện nay. Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng giúp cho hoạt động phân tích tín dụng phát triển trong tầm kiểm soát.
Thông qua đó hoạt động tín dụng được điều tiết từ định hướng phát triển, chính sách ứng xử đối với khách hàng, các bước thực hiện nghiệp vụ tín dụng… theo đó chỉ ra trách nhiệm của từng người, từng bộ phận liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng quy định những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tín dụng. Mỗi ngân hàng có chính sách tín dụng khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố liên quan, nhưng chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở: tuân thủ quy định của pháp luật của NHTM, phương châm kinh doanh của ngân hàng…. 12 Quy trình tín dụng là tổng hợp những nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng.
Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đó là quá trình đồng bộ, có tính chất liên hoàn, theo trình tự nhất định và có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. Quy trình tín dụng phân cấp thẩm quyền cho vay đến từng CBTD, không phải CBTD nào cũng được phụ trách và quản lý các khoản vay. Quy trình quản trị RRTD Quy trình quản trị RRTD tại các ngân hàng thường có 4 giai đoạn là: nhận dạng, đo lường, ứng phó và kiểm soát.
Mỗi giai đoạn bao gồm nhiều bước, cụ thể: Giai đoạn 1: Nhận biết RRTD Nhiệm vụ của bước này là nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu, tìm ra nguyên nhân và dự đoán tổn thất tiềm năng. Để nhận biết rủi ro, ngân hàng cần làm các bước sau: - Nhận biết RRTD từ phía khách hàng: Trƣớc khi cho vay: Phân tích đánh giá khách hàng qua đó lựa chọn khách hàng tốt để cho vay. Việc phân loại khách hàng thường được thực hiện thông qua các chỉ tiêu đánh giá mức độ RRTD, gồm chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng: Các chỉ tiêu định tính: Được thể hiện trong một số mô hình mà trong đó mô hình 6C được xem như là công cụ hữu hiệu nhất. Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không.
Các chỉ tiêu định lượng: Dựa vào báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp và các nguồn thông tin khác, Cán bộ tín dụng (CBTD) tiến hành các bước sau: Bước 1: Thu thập thông tin để phân tích tình hình tài chính khách hàng Các thông tin đánh giá khách hàng được CBTD thu thập từ BCTC, báo cáo kết quả kinh doanh. Mỗi thông tin thể hiện ý nghĩa riêng biệt. (Xem phụ lục A, bảng 1) Bước 2: Xử lý thông tin CBTD sàng lọc các thông tin thu được để phân tích, từ đó làm cơ sở để đánh giá năng lực tài chính của khách hàng. Bước 3: Xác định các nguy cơ rủi ro của khách hàng 13 Rủi ro của khách hàng bao gồm các loại rủi ro như: rủi ro thị trường, rủi ro chính sách.
CBTD sử dụng các công cụ nhận biết rủi ro để có thể nhận biết sớm về khách hàng có rủi ro. (Xem Phụ lục A, bảng 2) Trong và sau khi cho vay: Nhận biết RRTD qua một số dấu hiệu như trì hoãn hoặc gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳ, thường xuyên chậm thanh toán lãi khi đến hạn, trông chờ vào khoản thu nhập khác không phải từ hoạt động kinh doanh để thanh toán khoản vay, chậm gửi hay trì hoãn gửi các báo cáo tài chính hoặc báo cáo tiền tệ để kiểm tra, có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng với ngân hàng… - Nhận biết RRTD từ ngân hàng: Nhận biết nguyên nhân từ phía ngân hàng làm phát sinh các RRTD. Bên cạnh đó, Phân tích danh mục tín dụng để nhận diện được rủi ro tiềm ẩn. Giai đoạn 2: Đo lƣờng RRTD Đo lường RRTD là quá trình ngân hàng xác định mức rủi ro tại ngân hàng và rủi ro trong tương lai khi phê duyệt tín dụng của khách hàng.
Giai đoạn này ngân hàng sẽ áp dụng các công cụ được áp dụng cho hoạt động đo lường RRTD phổ biến. Cụ thể: Theo Hiệp ước Basel II, các phương pháp đo lường RRTD là phương pháp tiêu chuẩn, phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ cơ bản và phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ nâng cao. Phương pháp đánh giá tiêu chuẩn: Là phương pháp đơn giản nhất trong các phương pháp đánh giá RRTD. Phương trình 1: Tài sản có rủi ro trong phương pháp chuẩn RWAphƣơng pháp chuẩn của basel II = Tài sản * Hệ số rủi ro Theo phương pháp này,thì để đo lường RRTD các ngân hàng cần có sự hỗ trợ của các tổ chức xếp hạng bên ngoài (như Moody’s.
S&P, Fitch) và từ đó xác định hệ số rủi ro. Bên cạnh đó, Tài sản tín dụng của khách hàng chia thành 7 nhóm như sau: 14 Sơ đồ 1.3: Phân loại tài sản tín dụng của khách hàng theo Basel II Nguồn: Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) Hiệp ước Basel II không áp đặt hệ số rủi ro rõ ràng cho từng khoản mục mà còn tùy thuộc vào việc khoản mục đó được thực hiện với chủ thể nào, uy tín và xếp hạng tín dụng của chủ thể. Để xếp hạng khách hàng thì phải chấm điểm tín dụng khách hàng. Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng, sử dụng mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian công tác.
(Xem phụ lục B, bảng 1) Dựa trên số điểm chấm, việc xếp hạng tín dụng của chủ thể tùy thuộc vào xếp hạng tín dụng của chủ nợ (từ AAA đến B- và không xếp hạng) do các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quy định như S&P. (Xem phụ lục B,bảng 2) Hệ số rủi ro được xác định qua bảng sau: Bảng 1.1: Hệ số rủi ro của các tài sản có rủi ro Basel II Hệ số rủi ro Basel AAA A+ BBB+ BB+ B+ Không (RW) đối với Dƣới I đến đến đến đến đến xếp khoản cho vay B- AA- A- BBB- BB- B- hạng Đối với quốc gia, 0% 20% 50% 100% 100% 150% 100% NHTW Đối với ngân hàng và công ty 20% 20% 50% 100% 100% 100% 150% 100% bảo hiểm Đối với ngân hàng và công ty 20% 50% 100% 100% 100% 150% 100% bảo hiểm (cho 15 vay từ 3 tháng trở xuống) Đối với doanh 20% 50% 100% 100% 100% 150% 100% nghiệp Đối với BIS, The IMF, the ECB, 0% 0% the EC and the MDB Đối với hàng hóa bán lẻ như thẻ tín 100% 75% dụng, công ty tư nhân Đối với tài sản 50% 35% cầm cố Đối với cho vay 100% 100% BĐS Đối với tài sản có 150% rủi ro cao Đối với tài sản 100% khác Đối với tiền mặt 0% Nguồn: International Convergence of Capital Measurement & Capital Standard P15-17 Phương pháp xếp hạng nội bộ cơ bản: Phương pháp này đưa ra khái niệm tổn thất mất vốn do khách hàng không trả được nợ (EL). Khái niệm EL ở đây là mức tổn thất trung bình dự tín được qua số liệu thống kê trong quá khứ vì ngân hàng không biết 100% khách hàng nào là khách hàng xấu và khoản vay nào là khoản vay không thể trả được trong 12 tháng tới. Đối với mỗi khoản vay hay mỗi khách hàng, khoản tổn thất – EL sẽ được xác định như sau: EL = PD × LGD × EAD Trong đó: EL (Expected Loss): Tổn thất dự kiến.
PD (Probability of default): Xác suất vỡ nợ của khách hàng/ngành hàng LGD (Loss Given Default): Tỷ trọng % số dư rủi ro ngân hàng sẽ bị tổn thất khi khách hàng không trả được nợ. EAD (Exposure at Default): Số dư nợ vay (và tương đương) của khách hàng/ ngành hàng khi xảy ra vỡ nợ. 16 Với PD, LGD và EAD- ba yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu biểu hiện khả năng trả nợ và mong muốn trả nợ của khách hàng đã được lượng hóa cụ thể. Chỉ nhờ PD, LGD và EAD mà rất nhiều các nhân tố tác động đến khách hàng cũng như các khoản tín dụng cấp cho họ đã được giản lược và gói gọn chỉ trong ba cấu phần rủi ro ấy.
Hơn nữa, dựa trên kết quả tính toán PD, LGD và EAD các ngân hàng sẽ tiến tới phát triển các ứng dụng trong quản trị RRTD trên nhiều phương diện mà các ứng dụng chính là tính toán, đo lường rủi ro tín dụng EL – tổn thất dự kiến và UL (Unexpected Loss) – Tổn thất ngoài dự kiến.