CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Uỷ ban Basel (2000), “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thoả thuận” Theo Gestel và Baesens (2009), “Rủi ro tín dụng là rủi ro mà người vay vi phạm và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với các điều khoản đã cam kết của khoản nợ. Nó có thể xảy ra khi đối tác không có khả năng thanh toán hoặc không thể thanh toán đúng hạn”.
Bên cạnh đó, RRTD đề cập đến các sự kiện bất ngờ gây ra tổn thất về mặt giá trị của tài sản, lợi nhuận thực tế thu được thấp hơn so với lợi nhuận dự kiến hoặc tạo thêm chi phí để hoàn thành một giao dịch cụ thể khi các đối tác không thể trả lại các khoản nợ gốc và lãi vay đúng hạn được ghi trong hợp đồng (Hull, 2010). Theo Trần Huy Hoàng (2010), “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), “Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc lẫn lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn”. Tại khoản 1, điều 3, thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thoả thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Tóm lại, có thể hiểu đơn giản: Rủi ro tín dụng phát sinh trong cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng, do khách hàng đã không tuân thủ theo đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã cam kết, biểu hiện qua việc không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản nợ (bao gồm nợ gốc và lãi vay) theo đúng thời hạn đã ấn định hoặc không trả được nợ cho ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng ❖ Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: - Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh từ các bất cập trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng và đến từ việc xét duyệt cho vay. Rủi ro này bao gồm là: + Rủi ro lựa chọn: xuất phát từ nguyên nhân do các hạn chế trong việc đánh giá và phân tích tín dụng không có hiệu quả cao, làm cho việc lựa chọn các khoản vay có hiệu quả của ngân hàng không được chính xác (Nguyễn Văn Tiến, 2015). + Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo không hợp lý trong hợp đồng cho vay như các loại tài sản đảm bảo (TSĐB), chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay dựa trên giá trị TSĐB (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản trị khoản vay và hoạt động cho vay, xuất phát từ các nguyên nhân như sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề (Nguyễn Văn Tiến, 2015). - Rủi ro danh mục: một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản trị danh mục cho vay của ngân hàng và được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt của mỗi khách hàng đi vay hoặc các ngành, lĩnh vực kinh tế, ngoài ra còn có thể xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn (Nguyễn Văn Tiến, 2015). + Rủi ro tập trung: phát sinh khi ngân hàng thực hiện tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng trong cùng một ngành, cùng một lĩnh vực kinh tế, cùng một loại hình cấp tín dụng có cùng mức độ rủi ro hoặc cùng một khu vực địa lý nhất định (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
❖ Căn cứ vào tính chất phát sinh rủi ro - Rủi ro mất vốn: ngân hàng không thể thu hồi được nợ do khách hàng không muốn trả hoặc không còn khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015). - Rủi ro đọng vốn: liên quan đến việc khách hàng sử dụng nguồn vốn vay không đạt được hiệu quả hoặc gặp phải rủi ro dẫn đến không thực hiện thanh toán nợ đúng hạn (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân từ phía khách hàng - Do khách hàng có năng lực quản trị yếu kém, không đủ khả năng để thực hiện các mục tiêu kinh doanh đề ra, làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ theo đúng như thời hạn đã cam kết với ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
- Năng lực tài chính của khách hàng yếu kém, không còn đủ năng lực có thể thực hiện để thanh toán khoản tín dụng cho ngân hàng. Quy mô tài chính của khách hàng không đủ lớn để chịu đựng khi phát sinh rủi ro trước những biến đổi của môi trường kinh tế. Hơn nữa, các báo cáo tài chính của khách hàng cung cấp cho ngân hàng vẫn mang tính chất hình thức, thường được khuyếch đại lên rất nhiều lần so với thực chất, dẫn đến việc không đảm bảo được tính chính xác khi NHTM tiến hành đánh giá, thẩm định (Đào Văn Chung, 2021). - Trình độ chuyên môn của khách hàng không cao, làm cho khách hàng không thể đủ năng lực nhận biết các xu hướng thay đổi từ thực tiễn thị trường cũng như các cơ hội kinh doanh tạo ra lợi nhuận, điều này có thế dẫn đến việc khách hàng tham gia vào những lĩnh vực đầu tư không an toàn (Đào Văn Chung, 2021).
- Khách hàng sử dụng nguồn vốn vay không đúng với mục đích như đã cam kết với ngân hàng lúc vay vốn, gây nên những thiệt hại lớn khi triển khai các dự án đầu tư không mang lại hiệu quả cao, dẫn đến nguy cơ ngân hàng có thể bị mất đi nguồn thu nợ. Hơn nữa, khách hàng có ý định cố tình chiếm dụng nguồn vốn vay của ngân hàng, thiếu thiện chí khi thực hiện trách nhiệm trả nợ thì khó có thể tránh khỏi RRTD (Nguyễn Đăng Dờn và Phan Khoa Cương, 2016). - Sự gãy đỗ đến từ các đối tác ở trong quá trình tham gia kinh doanh của khách hàng, khi kinh doanh các khách hàng sẽ phải gắn kết với nhiều mối quan hệ hợp tác khác nhau, dẫn đến có thể gánh chịu rủi ro đến từ đối tác, điều này gây nên hậu quả là khách hàng sẽ bị thua lỗ, thậm chí mất vốn, không đủ khả năng trả nợ hoặc xa hơn nữa có thể gây nên hiệu ứng dây chuyền làm ảnh hưởng đến các khách hàng khác ở trong nền kinh tế và khiến cho NHTM phải gánh chịu các thiệt hại lớn. Nguyên nhân từ phía ngân hàng - Chính sách tín dụng chưa phù hợp, không hiệu quả với nền kinh tế và chưa đảm bảo thống nhất hoàn toàn với mục tiêu, chiến lược của ngân hàng.
Hơn nữa, chính sách 8 đưa ra chưa có được những quy định cụ thể, không phù hợp với tình hình thực tế, không có sự hợp lý khi thực hiện phân bổ tín dụng cho những đối tượng vay, vẫn còn xảy ra tình trạng có thể sẵn sàng cấp tín dụng đối với các đối tượng khách hàng mà chưa có sự quan tâm, gắn kết với việc đánh giá những rủi ro ở những lĩnh vực mà khách hàng đang hoạt động. Thêm vào đó, chính sách tín dụng còn chú trọng nhiều đến việc thúc đẩy con số dư nợ, chấp nhận rủi ro cao để mở rộng quy mô tín dụng, thúc đẩy lợi nhuận và gia tăng số lượng khách hàng dẫn đến xuất hiện tình trạng phát triển nóng, việc kiểm soát của ngân hàng sẽ kém hiệu quả (Nguyễn Duy Sang, 2020). - Trình độ chuyên môn và năng lực đối với một số cán bộ tín dụng vẫn còn hạn chế, phần lớn không có được sự hiểu biết đầy đủ, phân tích một cách toàn diện và sâu sắc về đối tượng thẩm định ở các ngành, nghề, lĩnh vực mà khách hàng đang hoạt động cũng như nhận diện được sự tin cậy của khách hàng, dẫn đến mắc phải nhiều sai sót khi thực hiện đánh giá, đưa ra kết luận cấp tín dụng cho khách hàng. Bên cạnh đó, việc chấp hành và tuân thủ những quy định, chính sách cũng như quy trình tín dụng không đảm bảo được sự nghiêm túc khi thực hiện, một số cán bộ có hành vi vi phạm đến các chuẩn mực, ý thức đạo đức nghề nghiệp còn yếu kém (Nguyễn Đăng Dờn và Phan Khoa Cương, 2016).
- Quy trình tín dụng được xây dựng chưa hợp lý, có nhiều điểm bất cập không phù hợp với đặc thù, tính chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như trong việc đánh giá khách hàng để đưa ra quyết định tín dụng. Thêm vào đó, quy trình được xây dựng còn khá sơ sài, chưa được cụ thể hoá, không đảm bảo được tính đồng bộ và các bước trong quy trình chưa có được sự tuân thủ một cách nghiêm túc khi thực hiện (Nguyễn Thị Trà My, 2021). - Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ vẫn chưa đạt được hiệu quả cao trong quá trình thực thi, chỉ dừng lại ở mức hình thức, có nhiều điểm còn tỏ ra lỏng lẻo, không được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng còn chậm chạp trong việc nhận diện những rủi ro, không phát hiện kịp thời các sai sót từ khách hàng để có những biện pháp khắc phục để xử lý, nhằm hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy ra (Phan Thị Thu Hà, 2018). - Chất lượng thẩm định tín dụng còn thấp, công tác thẩm định không được triển khai thực hiện sâu sát, có nhiều thiếu sót trong việc đánh giá khách hàng, chưa có sự phân tích, thẩm định đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định của ngân hàng, điều này sẽ gây cản 9 trở, khó có thể hiểu cụ thể được thực tế hoạt động kinh doanh của khách hàng thế nào, gây ra nhiều khó khăn khi đánh giá đúng về sự tin cậy từ khách hàng, dẫn đến dễ mắc phải sai lầm trong việc đồng ý hoặc từ chối cấp tín dụng khi quyết định.