CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng [1, tr. Hay nói cách khác, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản cho vay hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn dẫn đến tổn thất tài chính, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch [4, tr.872] Rủi ro danh mục: Rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập trung: Do ngân hàng tập trung mức dư nợ cho vay dồn vào một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một lĩnh vực có rủi ro cao. 8 Rủi ro giao dịch: Rủi ro phát sinh do những hạn chế, sai sót trong quá trình tác nghiệp thẩm định xét duyệt tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay.
Rủi ro giao dịch bao gồm : Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: Rủi ro liên quan đến thẩm định, phân tích tín dụng. Rủi ro bảo đảm: Rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng, các loại TSĐB, hình thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm. Rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay.
Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Nguyên nhân chủ quan từ phía Khách hàng vay vốn Năng lực quản lý điều hành kinh doanh yếu kém, không hiệu quả, khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích dẫn đến làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ cho ngân hàng; Khách hàng không mua bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm tài sản, nên khi có sự cố xảy ra thì khách hàng bị tổn thất, không có khả năng trả nợ vay. Hoàn cảnh gia đình khách hàng gặp khó khăn như bị sa thải, thất nghiệp … dẫn đến việc mất nguồn thu nhập để trả nợ ngân hàng. Khách hàng có chủ ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, làm giả hồ sơ giấy tờ, con dấu, cố tình không trả nợ vay, lừa đảo chiếm đoạt tiền vay [4, Tr 877] Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng cho vay Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro, chưa chú trọng đến việc phân tích khách hàng, xếp loại tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. 9 Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chính sách tín dụng và các điều kiện cho vay: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn và không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về việc sử dụng vốn vay và tình hình kinh doanh của khách hàng.
Năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ tín dụng ngân hàng chưa đủ tầm đáp ứng yêu cầu công việc; Định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là: Dễ định giá, dễ chuyển nhượng quyền sở hữu dễ tiêu thụ. Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay hoặc cho vay đúng nhưng thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời. Do áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng nên ngân hàng đã nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng để thu hút khách hàng vay vốn [4, Tr 878] Nguyên nhân khách quan đến từ môi trường bên ngoài Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; Tình hình an ninh trong nước, khu vực và thế giới bất ổn; Những bất cập trong cơ chế, chính sách của nhà nước, sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, do lạm phát, biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. Từ đó doanh nghiệp dù cho có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng.
Hậu quả của rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng Khi RRTD xảy ra ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng ngân hàng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động đến hạn làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi và rủi ro thanh khoản. Chi phí ngân hàng gia tăng do phải trích lập dự phòng RRTD làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro và vốn tự có; Nếu rủi ro xảy ra ở quy mô lớn và kéo dài ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản [4, tr 879]. Đối với nền kinh tế xã hội Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên lý “ Đi vay để cho vay” do đó nếu người gửi tiền mất niềm tin vào ngân hàng sẽ tiến hành rút tiền tạo hiệu ứng tâm lý rút tiền ở các ngân hàng khác, hậu quả có thể khiến cho cả hệ thống ngân hàng sụp đổ. Rủi ro tín dụng gây ra tổn thất gián tiếp cho các ngân hàng khác nếu không khắc phục kịp thời có thể gây nên phản ứng dây truyền ảnh hưởng đến sự an toàn và ổn định của cả hệ thống ngân hàng, gây ra những bất ổn về kinh tế xã hội [4, tr 879].
Quản trị rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Quản trị rủi ro tín dụng là toàn bộ quá trình nhận diện, đo lường, đánh giá giám sát, kiểm soát và báo cáo rủi ro tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức độ rủi ro tín dụng chấp nhận được [4, tr. Hay nói cách khác Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng Quy trình quản trị rủi ro tín dụng gồm các nội dung: Nhận diện rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro tín dụng, xử lý giảm thiểu rủi ro tín dụng và giám sát, báo cáo rủi ro tín dụng [4, tr.966-1000] theo phụ lục 1.
Tiêu chí đánh giá quản trị rủi ro tín dụng Tổn thất do rủi ro tín dụng: Mục tiêu của quản trị RRTD là phòng ngừa, tính toán tổn thất và giảm thiểu tổn thất do RRTD, việc quản trị RRTD tốt tức mức độ tổn thất ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được đúng yêu cầu của Ban lãnh đạo ngân hàng. Tùy theo tình hình kinh tế, mục tiêu kinh doanh, chu kỳ kinh doanh… trong từng thời kỳ mà ngân hàng có thể chấp nhận mức độ tổn thất khác nhau nhưng yêu cầu chung là mức độ tổn thất năm sau nhỏ hơn năm trước và càng thấp càng tốt. Mức độ tổn thất cao tức lợi nhuận ngân hàng đã giảm đi một khoản tương ứng do phải bù đắp cho tổn thất, nhưng tổn thất trong hoạt động tín dụng ngân hàng là không thể tránh khỏi nên ngân hàng chỉ có thể giảm thiểu và phòng ngừa tổn thất chứ không thể loại trừ tổn thất đến từ rủi ro tín dụng. Tổn thất rủi ro tín dụng gồm rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính.
Tổn thất tài chính: là những tổn thất có thể tính toán được tương ứng với số vốn mà ngân hàng bị mất đi để bù đắp cho những rủi ro tín dụng. Tổn thất tín dụng là cơ sở quan trọng để trích lập dự phòng rủi ro và xác định khả năng thanh toán của ngân hàng.924] Tổn thất tín dụng = Nợ dưới chuẩn x 0,2 + Nợ nghi ngờ x 0,5 +Nợ mất vốn x1,0 Tổn thất tín dụng = Nợ nhóm 3 x 0,2 + Nợ nhóm 4 x 0,5 + Nợ nhóm 5 x 1,0 Tổn thất phi tài chính: là những tổn thất không thể tính toán được bằng con số cụ thể, tổn thất phi tài chính có thể đến từ các nguyên do: Ngân hàng không đủ vốn để cho vay; Ngân hàng bị mất đi các hợp đồng tín dụng tốt do các quy trình cho 12 vay bất hợp lý hoặc do lỗi nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, chi phí cơ hội khi theo dõi một khoản vay không hiệu quả, tổn thất do các tác động của môi trường kinh doanh… Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến tổn thất do rủi ro tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Tổng nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ Nợ quá hạn: là nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5, các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không trả được nợ, phản ánh các khoản nợ mà ngân hàng không thu được đúng hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Tổng nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ Nợ xấu là các khoản nợ được phân vào nhóm 3, 4 và 5 là các khoản nợ mà khả năng trả nợ của khách hàng không cao có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng cao tức nguy cơ xảy ra tổn thất do RRTD càng cao.