CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM. Lý thuyết về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng đã được nhiều học giả, chuyên gia, các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng thế giới đã định nghĩa, thậm chí pháp luật của mỗi quốc gia đưa ra những khái niệm khác nhau. Khái niệm rủi ro tín dụng là cơ sở đầu tiên để có thể nhìn nhận, đánh giá các vấn đề có liên quan đến rủi ro tín dụng.
Một số quan điểm của các chuyên gia, học giả, tổ chức trong việc đưa ra khái niệm rủi ro tín dụng mà tác giả chọn lọc trích dẫn như sau. Rủi ro tín dụng được coi là khả năng thua lỗ sẽ xảy ra khi khoản vay hoặc bất kỳ hạn mức tín dụng nào khác của một con nợ cụ thể không được hoàn trả (Rehman và cộng sự, 2019). BIS (2000) đưa ra định nghĩa rủi ro tín dụng là khả năng mất quyền nắm giữ của người cho vay do người đi vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản thanh toán đã thỏa thuận". CFI (2020) có đưa ra định nghĩa rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro tín dụng phát sinh khi một tổ chức hoặc cá nhân đi vay không đáp ứng được các nghĩa vụ nợ của họ.
Đó là khả năng người cho vay sẽ không nhận được các khoản thanh toán gốc và lãi của một khoản nợ cần thiết để thanh toán khoản nợ đã mở rộng cho người đi vay.” Điểm a khoản 24 điều 2 Thông tư 41/2016/TT-NHNN được ngân hàng nước ban hành ngày 30/12/2016 đã đưa ra định nghĩa rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. CEB (2022) chỉ ra rằng rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro thanh toán và rủi ro thanh toán trước. Bên cạnh đó, rủi ro tài sản thế chấp cũng được xếp như là một bộ phận của rủi ro tín dụng (thực chất các ngân hàng sử dụng tài sản thế chấp như một biện pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng). Nhìn chung, rủi ro tín dụng chủ yếu phát 10 sinh khi người đi vay (khách hàng) không có khả năng hoặc không sẵn sàng trả nợ cho bên cho vay (ngân hàng).
Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra được vấn đề về rủi ro tín dụng xuất phát là từ người đi vay (khách hàng) có thể là cá nhân hoặc tổ chức không có/không đủ khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng hay gọi đơn giản là khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay và lãi, nghĩa vụ trả nợ giữa khách hàng vay và bên ngân hàng cho vay thông qua một thỏa thuận gọi là thỏa thuận tín dụng, còn trên thực tế các NHTM Việt Nam hiện đang dùng là “hợp đồng tín dụng” hoặc “Hợp đồng cấp tín dụng”, tùy vào mỗi ngân hàng sẽ có mẫu hợp đồng riêng và tên hợp đồng cũng sẽ khác đi nhưng về mặt bản chất các hợp đồng này vẫn là loại văn bản được dùng nhằm xác lập việc cấp tín dụng của ngân hàng cho bên vay và là căn cứ để các bên tham gia ký kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng cấp tín dụng. Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng Bốn dấu hiệu có thể nhận biết được rủi ro tín dụng bao gồm: Dấu hiệu tài chính; Dấu hiệu phi tài chính; Dấu hiệu trong xử lý thông tin tài chính và Dấu hiệu phi tài chính khác. Nhằm định hướng phân tích sâu hơn những nội dung cốt lõi của bài nghiên cứu thì tác giả đã nêu rõ những dấu hiệu nhận biết cụ thể sau: * Dấu hiệu tài chính: bao gồm những chỉ số thanh khoản đã và đang suy giảm; Cấu trúc vốn không phù hợp và Các chỉ số tiềm năng sinh lãi đang co biết suy giảm; * Dấu hiệu phi tài chính: được chia thành hai dấu hiệu chính bao gồm: (i) dấu hiệu liên quan đến NHTM và (2) dấu hiệu liên quan đến quản lý khách hàng vay. Đối với dấu hiệu liên quan đến NHTM bao gồm một trong số những dấu hiệu sau: Giảm đáng kể số dư tiền gởi; Nợ gia tăng; Mức vay thường xuyên; Nhu cầu khoản vay cao hơn mức dự tính; Không có nguồn tài trợ lãi cao; Không trả dư nợ gốc và lãi suất vay ngân hàng; Đối với dấu hiệu liên quan đến quản lý khách hàng bao gồm các dấu hiệu sau: Sự khác biệt giữa các NS trong hệ quản lý; Xuất hiện sự bất đồng về phương thức quản lý; Thiếu kinh nghiệm và xuất hiện nhiều nhân sự có thẩm quyền quản lý tại 11 doanh nghiệp; Thay đổi nhân sự không liên tục; Phí quản lý cao; Mâu thuẫn trong hệ thống quản lý; Quản lý có tính chất gia trưởng * Dấu hiệu liên quan đến xử lý thông tin tài chính: bao gồm các chỉ số như sự gia tăng tỉ lệ không cân bằng nợ; Năng lực tài chính giảm sút; Chuẩn bị BCTC không đầy đủ và chậm trễ gửi báo cáo; Nguồn thu gia tăng nhanh chóng và thời gian trả nợ dài; Hiệu quả kinh doanh thua lỗ; Tự thay đổi bảng cân đối tài sản thành tài sản ảo.
* Dấu hiệu phi tài chính khác bao gồm: Cơ sở kinh doanh của khách hàng vay bị xuống cấp dẫn đến suy giảm kết quả kinh doanh cũng như giảm giá trị tài sản của cơ sở kinh doanh; Hàng hoá tồn kho gia tăng nhưng không bán được hoặc xuống cấp và hư hỏng khiến phí duy trì bảo quản và giá trị hàng hoá tồn kho gia tăng nhưng không có lợi nhuận, nếu hàng hoá tồn kho có thời gian sử dụng lâu hơn dự kiến tuổi thọ hàng hoá tồn kho càng dài dẫn đến xuống cấp và không bán thu vốn được; Có sự sai phạm của cán bộ hoặc nhân viên được phân công trách nhiệm quản lý những khoản vay của khách hàng. Có nhiều dấu hiệu có thể nhận biết rủi ro tín dụng, nhưng có những dấu hiệu rủi ro tín dụng mới xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn và mới chỉ ở mức độ dấu hiệu chớ chưa xuất hiện rủi ro tín dụng ví dụ khi doanh nghiệp vay vốn chưa chuẩn bị đủ BCTC và chưa nộp đầy đủ cho nhà băng cũng là dấu hiệu rủi ro tín dụng nhưng có thể doanh nghiệp khắc phục ngay bằng cách hoàn thành báo cáo theo yêu cầu. Để có thể nhận biết và phát hiện được các dấu hiệu rủi ro tín dụng phải có những chuyên gia hoặc kỹ thuật viên được huấn luyện chuyên sâu và có kiến thức vững chắc nhằm nhận biết độ nguy hiểm hay không nghiêm trọng của những dấu hiệu RỦI RO TÍN DỤNG nhằm chuẩn bị biện pháp xử lý 1. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng là một chỉ tiêu phán ánh rủi ro tín dụng của NHTM và được lương hóa bằng khoa học.
Hiện nay, các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng được phát triển thêm tương đối đa dạng nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế liên quan tới mục tiêu, xu thế phát triển ngành tài chính ngân hàng, cũng như các lĩnh vực kinh tế khác. Tuỳ từng NHTM sẽ phát triển thêm các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau. Tuy nhiên đa phần các NHTM sử dụng (1) chỉ tiêu nợ quá hạn, (2) chỉ tiêu nợ 12 xấu, (3) chỉ tiêu dự phòng rủi ro tín dụng nhằm đánh giá rủi ro tín dụng đối với ngân hàng đó. (1) Chỉ tiêu nợ quá hạn Nợ quá hạn là chỉ tiêu trọng yếu đánh giá xếp hạng tín dụng.
Khi đến hạn thanh toán nợ theo thoả thuận, phía khách hàng vay không có khả năng thanh toán được nợ một phần hay toàn bộ nợ vay cho bên ngân hàng thì nợ quá hạn sẽ phát sinh kể từ thời điểm hết hạn thanh toán nợ. Tuỳ theo mức độ quá hạn mà khoản nợ bị quá hạn sẽ được phân loại là nợ đạt tiêu chuẩn hay nợ đáng lưu ý; nợ dưới tiêu chuẩn hay nợ tiềm tàng và cuối cùng là nợ có tỷ lệ thu thấp. Nợ quá hạn được phân loại thông qua 2 chỉ tiêu sau: Nếu tỷ lệ trong chỉ tiêu 2 càng lớn thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng sẽ càng cao. Nếu tỷ lệ trong chỉ tiêu 2 càng nhỏ thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng sẽ càng thấp.
(2) Chỉ tiêu nợ xấu Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ mà khách hàng vay không trả được cho ngân hàng. Nguyên nhân có thể khách hàng vay trước đó vì lý do khó khăn tài chính dẫn đến không trả được hoặc trả không đúng hạn; hay doanh nghiệp đang trong tình trạng kinh doanh không có doanh thu để bù các chi phí trong đó có lãi vay khiến nợ phải trả tăng, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán. Nợ xấu được xem là một chỉ tiêu cơ bản, quan trọng phản ánh chính xác nhất chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của một ngân hàng càng cao thì khả năng thu hồi vốn càng thấp, thậm chí ngân hàng còn phải đối mặt với nguy cơ mất vốn.
Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN thì nợ xấu là nợ xấu trên bảng cân đối tài sản gồm nợ xấu thuộc loại 3, 4 và 5 quy định trong Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ được sử dụng nhằm đánh giá hiệu quả tín dụng của ngân hàng. 13 Các công thức được dùng để phản ánh nợ xấu của ngân hàng bao gồm: (3) Chỉ tiêu dự phòng rủi ro tín dụng Chỉ tiêu này được sử dụng nhằm phản ánh khả năng chi trả của ngân hàng nếu rủi ro tín dụng thực sự phát sinh. Mục đích sử dụng chỉ tiêu này là để bù đắp những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi khách hàng vay bị chết hay mất tích (đối với cá nhân); hoặc giải thể hoặc phá sản (đối với tổ chức) dẫn đến không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng.
Dự phòng tín dụng được tính trên tổng nợ vay của khách hàng bao gồm: (i) dự phòng cụ thể: Để loại trừ rủi ro tín dụng với những khoản nợ xấu và (ii) dự phòng tổng quát: Để loại trừ các rủi ro riêng lẻ không có trong danh mục tín dụng và toàn bộ dự phòng được tính trên giá thành sản xuất của doanh nghiệp.