CHƯƠNG 1 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH LÝ LUẬN 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Tín dụng ngân hàng nói chung được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Một cách khái quát, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Từ phân tích trên, ta đi đến khái niệm: Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu ( tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác [8, tr 350]. Phân loại tín dụng ngân hàng 1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến một năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng vay có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất….), xây 4 dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay.), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Căn cứ vào bảo đảm tín dụng - Tín dụng có bảo đảm: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức này thường áp dụng đối với các khách hàng không đủ uy tín với ngân hàng. Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt, tạo áp lực buộc con nợ phải trả, giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng.
- Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao. Căn cứ mục đích tín dụng - Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản, bao gồm: + Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai. + Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại và bất động sản nước ngoài.
- Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương. - Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc. - Tín dụng tiêu dùng: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, trang thiết bị trong nhà… 1. Căn cứ vào chủ thể vay vốn - Tín dụng doanh nghiệp: Gọi là tín dụng bán buôn vì những doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị lớn.
- Tín dụng cá nhân, hộ gia đình: Gọi là tín dụng bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng. - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân 5 hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. Căn cứ phương thức hoàn trả nợ vay - Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay lớn và có thời hạn dài.
- Tín dụng hoàn trả một lần: Là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn. - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường được áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng.
Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng - Tín dụng bằng tiền: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền. Tín dụng bằng tiền gọi là cho vay. - Tín dụng bằng tài sản: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản. Hình thức tín dụng này chính là cho thuê tài chính.
- Tín dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó bằng uy tín. Hình thức tín dụng này chính là bảo lãnh ngân hàng 1. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng - Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng. - Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như: tín dụng ủy thác, tín dụng thông qua tổ chức đoàn thể.
Tín dụng khác Bao gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở trên (ví dụ, tín dụng kinh doanh chứng khoán). Quy trình cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại Để giúp cho hoạt động tín dụng được diễn ra thống nhất, khoa học, có thể hạn 6 chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, các NHTM xây dựng quy trình tín dụng. Quy trình cấp tín dụng của NHTM thường có 4 giai đoạn cơ bản sau: [19].1 Giai đoạn thứ nhất: Thiết lập hồ sơ tín dụng Hồ sơ tín dụng của một ngân hàng là tài liệu bằng văn bản, biểu hiện mối quan hệ tổng thể của ngân hàng với khách hàng vay vốn. Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào sự hoàn chỉnh và chính xác của hồ sơ tín dụng.
Giai đoạn thứ hai: Phân tích tín dụng Phân tích đánh giá một cách toàn diện trước khi cho vay. Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin có liên quan đến khách hàng, trong đó tập trung vào mục đích tín dụng, uy tín và năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi của phương án, dự án, tài sản đảm bảo tiền vay. Nếu khách hàng được đánh giá là tốt, như có đủ tư cách trong kinh doanh, có năng lực tài chính đảm bảo, chấp hành tốt các hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọng phát triển trong tương lai. thì sẽ được ngân hàng xem xét để cho vay.
Ngược lại, nếu khách hàng không đáp ứng được những vấn đề trên ngân hàng sẽ từ chối cho vay. Giai đoạn thứ ba: Quyết định cho vay Nếu chấp nhận cấp tín dụng, cán bộ tín dụng xây dựng hợp đồng tín dụng, cấp có thẩm quyền ký duyệt và hai bên tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng. Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân cho khách hàng như đã ký kết. Giai đoạn thứ tư: Kiểm tra, giám sát và xử lý vốn vay Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra việc sử dụng khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng trong suốt quá trình vay vốn từ khi tiền vay phát ra cho đến khi khoản vay được hoàn trả, nhằm đồn đốc khách hàng thực hiện đúng, đầy đủ những cam kết đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng và đặc điểm kinh doanh sử dụng vốn của khách hàng.
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm - Rủi ro là vấn đề không mong đợi trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã 7 hội. Có nhiều học giả nghiên cứu về rủi ro đưa ra nhiều khái niệm về rủi ro như: “Rủi ro là bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại”; “Rủi ro là bất trắc cụ thể liên quan đến nhiều biến cố không mong đợi”. - Theo ủy ban Basel: “ Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”.
Thực chất rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng theo ủy ban Basel đó là: “Sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng” mà sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi. Tại Việt Nam, theo quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN thì “Rủi ro trong hoạt động ngân của TCTD là khả năng xả ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [14]. - RRTD là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng. Bất kỳ một khoản tín dụng nào được cấp ra đều phải tuân thủ theo hai nguyên tắc sau: + Khoản tín dụng đó phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
+ Khoản tín dụng đó phải được hoàn trả cả vốn và lãi tiền vay đúng kỳ hạn đã cam kết. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, vì một lý do nào đó có thể là chủ quan, khách quan khiến cho nguyên tắc thứ hai bị vi phạm. Điều này sẽ làm cho ngân hàng chịu mọi khoản tổn thất như thiếu vốn khả dụng, mất khả năng thanh toán, những tổn thất này người ta gọi là RRTD.