CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), “RRTD là các tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng (cả nội bảng và ngoại bảng).” Theo Lê Văn Tú (2014), “RRTD là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập cho ngân hàng khi khách hàng không đáp ứng được một phần hoặc toàn bộ hay không thực hiện đầy đủ các điều khoản như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.” Theo Dương Hữu Hạnh (2013), “RRTD xuất hiện trong quá trình cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụng khác của ngân hàng.” Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là ra tổn thất có khả năng xẩy ra đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các quan điểm trên, theo quan điểm của tác giả: RRTD là khả năng có thể xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng do khách hàng vay vốn không thực hiện được các nghĩa vụ theo đúng cam kết của mình dẫn đến việc ngân hàng có thể bị thiệt hại.
Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có những đặc điểm sau: 12 - Tính gián tiếp: khi cung ứng dịch vụ tín dụng, NHTM sẽ chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng vay trong thời gian nhất định theo thỏa thuận. Do đó, rủi ro do không thu hồi được vốn vay xuất phát từ chính quá trình sử dụng vốn của người đi vay gặp phải rủi ro. Chính vì vậy, khi người đi vay gặp rủi ro, trước tiên người đi vay biết rõ về rủi ro đó, trong khi ngân hàng lại được biết sau đó. Mức độ kịp thời, đầy đủ về rủi ro phát sinh trong sử dụng vốn vay của khách hàng cũng phụ thuộc lớn vào khả năng nhận diện rủi ro, tinh thần hợp tác của khách hàng,.
nên ngân hàng khó có thể ước lượng chính xác mức độ rủi ro xảy ra. Chính vì rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp nên trong quản trị rủi ro tín dụng, ngân hàng thưng mại phải có một hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa nhân viên tín dụng và khách hàng. - Tính đa dạng và sự phức tạp. Rủi ro tín dụng phát sinh từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau, hình thức rủi ro cũng rất đa dạng và hậu quả khó lường nên rủi ro tín dụng mang tính đa dạng và phức tạp.
Nguyên nhân của đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm rủi ro gián tiếp. Do đó, quản trị rủi ro tín dụng luôn được ngân hàng thương mại quan tâm. Chính vì vậy, trong quản trị rủi ro tín dụng, ngân hàng thương mại cần thiết phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan đối với bất kỳ một rủi ro nào. - Tính tất yếu: trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, còn tồn tại hoạt động tín dụng thì vẫn có rủi ro tín dụng phát sinh.
Do nguyên nhân thứ nhất và thứ 2, thông tin không cân xứng nên rủi ro tín dụng luôn tồn tại. Chính vì vậy, kinh doanh ngân hàng buộc các nhà quản lý ngân hàng phải chấp nhận rủi ro. Ngân hàng phải chấp nhận một mức độ rủi ro phù hợp tương ứng với phần lợi nhuận tạo thành. 13 Xuất phát từ lý do trên mà khi thực hiện cung ứng tín dụng, ngân hàng thương mại thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro để nhận diện rủi ro, ngăn ngừa rủi ro, kiểm soát rủi ro phát sinh do bất cân xứng về thông tin.
Quản trị rủi ro cũng giúp NHMT thực hiện định giá khoản vay. Phân loại rủi ro tín dụng * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành hai loại: Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch “là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là rủi ro có thể phát sinh liên quan đến quá trình cấp tín dụng đối với khách hàng.
Nguyên nhân phát sinh rủi ro là những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng, xét duyệt cấp tín dụng. Rủi ro giao dịch được phân thành ba loại: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.” (Lê Văn Tú, 2014) + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục là “rủi ro phát sinh liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Nguyên nhân phát sinh rủi ro là do những hạn chế trong quản lý danh mục cấp tín dụng của ngân hàng. Rủi ro danh mục được phân thành hai loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.” (Dương Hữu Hạnh, 2013) 14 + Rủi ro nội tại là rủi ro xuất phát từ yếu tố riêng biệt mỗi chủ thể đi vay hay từ ngành kinh tế. + Rủi ro tập trung là rủi ro xuất phát từ việc cho vay tập trung vào một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại sản phẩm tín dụng hoặc một khu vực địa lý.
* Căn cứ vào phương diện quản lý và giám sát của ngân hàng, RRTD được phân loại thành RRTD nhận diện được và RRTD chưa nhận diện được. - RRTD nhận diện được là “loại rủi ro mà ngân hàng có thể nhận diện được nguyên nhân gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian phát sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế rủi ro. Những rủi ro tín dụng thuộc loại này thường do yếu tố chủ quan của con người gây ra, có thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây ra cho mình, thông thường là xuất phát từ phía khách hàng.” (Dương Hữu Hạnh, 2013) - RRTD chưa nhận diện được là “loại RRTD mà ngân hàng không thể dự đoán được, không biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra. Những RRTD loại này thường không do yếu tố chủ quan gây ra mà chủ yếu là do những yếu tố khách quan gây ra như: thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn,…” (Lê Văn Tú, 2014) Hai loại rủi ro trên, thông thường ngân hàng tập trung quản trị để ngăn chặn những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ có cách chống đỡ.
Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Quan điểm về quản trị rủi ro tín dụng và tổ chức quản trị rủi ro tín dụng Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2013), “quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận 15 rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tối thiểu hóa những tác động bất lợi của rủi ro.” Theo Phan Thị Thu Hà (2016), “quản trị RRTD là quá trình xây dựng, thực thi các chính sách và các biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tìm ra nguyên nhân và xử lý các tính huống xảy ra RRTD, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.” Theo Nguyễn Văn Tiến (2014), “Quản trị RRTD là quá trình nhận dạng, phân tích các nhân tố rủi ro, kiểm soát mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng.” Như vậy, quản trị RRTD là toàn bộ quá trình nhận diện, đo lường, đánh giá, giám sát, kiểm soát, xử lý tổn thất và báo cáo rủi ro tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho NHTM trong phạm vi mức độ rủi ro tín dụng chấp nhận được. Tổ chức công tác quản trị RRTD tại NHTM thường được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, từ khâu phát hiện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý rủi ro. Để thực hiện quản trị RRTD, ngân hàng thương mại phải tổ chức mô hình, bộ máy quản trị rủi ro tín dụng.
Hiện nay, có 02 mô hình quản trị RRTD được phổ biến sử dụng đó là: - Mô hình quản trị RRTD tập trung: Công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro khách hàng, ngân hàng được tập trung ở hội sở chính hoặc theo vùng, miền. Mô hình này tách biệt độc lập giữa 02 chức năng: Chức năng kinh doanh và chức năng quản trị rủi ro. Phạm vi áp dụng: Mô hình này thông thường được thực hiện ở các ngân hàng có quy mô hoạt động lớn. 16 - Mô hình quản trị RRTD phân tán: Công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro của ngân hàng được thực hiện tại các chi nhánh riêng biệt.
Hội sở chính chỉ có nhiệm vụ chỉ đạo hướng dẫn chung và thẩm định khách hàng vượt quá khả năng cho phép của chi nhánh. Mô hình này chưa tách biệt được độc lập chức năng kinh doanh và chức năng quản trị rủi ro. Phạm vi áp dụng được áp dụng thực hiện ở các ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ.